Offcanvas Section

You can publish whatever you want in the Offcanvas Section. It can be any module or particle.

By default, the available module positions are offcanvas-a and offcanvas-b but you can add as many module positions as you want from the Layout Manager.

You can also add the hidden-phone module class suffix to your modules so they do not appear in the Offcanvas Section when the site is loaded on a mobile device.

Thánh Isidore là mẫu gương kết hợp học thức với thánh thiện. Đời sống ngài cho thấy lòng bác ái, sự hiểu biết có thể chữa lành và hòa giải những người đau khổ.

Trong 76 năm cuộc đời của Thánh Isidore là thời kỳ tranh chấp cũng như phát triển của Giáo Hội Tây Ban Nha. Người Visigoth xâm lăng phần đất này trong một thế kỷ, và trước đó nửa thế kỷ trước khi Thánh Isidore chào đời thì họ đã thiết lập một thủ đô khác cho chính họ. Ðó là những người theo Arian -- họ cho rằng Ðức Kitô không phải là Thiên Chúa. Do đó, Tây Ban Nha bị chia làm đôi: Một dân tộc (người Công Giáo La Mã) phải chiến đấu với dân tộc khác (người Gô-tích Arian).

Thánh Isidore là người hợp nhất Tây Ban Nha, giúp quốc gia này trở nên một trung tâm văn hóa và học thuật cũng như một khuôn mẫu cho các quốc gia Âu Châu khác, mà các nền văn hóa ấy đang bị đe dọa bởi sự xâm lăng của những người man rợ.

Có thể nói Thánh Isidore sinh trong một gia đình thánh thiện của thế kỷ thứ sáu ở Tây Ban Nha. Hai người anh của ngài, Leander và Fulgentius, và người chị, Florentina, đều là các thánh được sùng kính ở Tây Ban Nha. Ðây cũng là một gia đình lãnh đạo và tài giỏi với các vị Leander và Fulgentius đều làm giám mục và Florentina làm mẹ bề trên.

Là một người tài giỏi về học thuật, đôi khi Thánh Isidore được gọi là "Sư Phụ của Thời Trung Cổ" vì cuốn bách khoa ngài viết, "Etymology" (Từ Nguyên Học) đã được dùng như sách giáo khoa trong chín thế kỷ. Ngài còn viết các sách về văn phạm, thiên văn, địa lý, sử ký, và tiểu sử cũng như thần học.

"Ðức Kitô đã nói: 'Tôi không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ' (x. Mt. 20:28). Những ai được đặt trên người khác phải coi vinh dự đó cũng như khi họ được giao cho công việc rửa chân anh em.

Thánh Biển Ðức giữ một chức vụ quan trọng trong Dòng Phanxicô và khi mãn nhiệm kỳ ngài thật vui vẻ để hòa mình vào một công việc khác.

Cha mẹ ngài là những nô lệ được đem từ Phi Châu sang Messina, Sicily. Ðược tự do vào năm 18 tuổi, Biển Ðức làm công trong một nông trại và không bao lâu ngài đã có đủ tiền để tậu một đôi bò và ngài rất hãnh diện về cặp bò này. Lúc ấy ngài tham gia vào một nhóm ẩn tu sống gần Palermo và sau đó được bầu làm người thủ lãnh. Vì những vị ẩn tu này sống theo Quy Luật của Thánh Phanxicô nên Ðức Giáo Hoàng Piô IV đã ra lệnh họ gia nhập dòng Nhất.

Sau đó Thầy Biển Ðức được giao cho công việc giám đốc đệ tử viện và tiếp đó là bề trên nhà dòng ở Palermo. Ðó là một chức vụ ít khi được giao cho một thầy. Thật vậy, thầy bị ép buộc phải nhận chức bề trên. Và khi mãn nhiệm kỳ, thầy vui vẻ trở về với công việc của một trợ sĩ trong nhà bếp.

Khi làm bề trên, Thầy Biển Ðức khiển trách các tu sĩ với sự khiêm tốn và bác ái. Có lần thầy khiển trách một đệ tử và giao cho việc đền tội nhưng ngay lúc ấy ngài mới biết đệ tử này không có lỗi lầm gì. Ngay lập tức, ngài quỳ xuống và xin người đệ tử này tha lỗi cho mình.

Ðức giám mục Richard rất nhân từ với người dân nhưng ngài kiên quyết với các giáo dân xấu mà không biết hối lỗi.

Thánh Richard sinh ở Anh quốc năm 1197. Khi còn nhỏ, ngài và người anh đã phải mồ côi. Anh của ngài làm chủ một số nông trại. Richard đã phải bỏ dở việc học để giúp anh quản trị cơ sở khỏi bị lụn bại. Thấy Richard chăm chỉ làm việc, người anh muốn tặng cho ngài các nông trại ấy, nhưng ngài không nhận. Ngài cũng không muốn lập gia đình vì muốn đi học trước đã.

Richard vào Ðại Học Oxford và với sự chăm chỉ học hành, không lâu ngài đã có được một địa vị quan trọng trong trường. Sau đó, Thánh Edmund, lúc ấy và tổng giám mục của Canterbury, đã trao cho Richard trách nhiệm trông coi giáo phận. Khi Thánh Edmund từ trần, Richard gia nhập dòng Ða Minh ở Pháp. Sau khi được thụ phong linh mục, ngài được tấn phong làm giám mục của Chichester, nước Anh.

Vua Henry III không muốn Richard làm giám mục ở đây. Nhà vua có một người bạn, nhưng lại không đủ tư cách nên vua từ chối không để ÐGM Richard sử dụng vương cung thánh đường. Nhà vua còn đe dọa dân chúng ở Chichester không được tiếp rước Ðức Richard. Cho đến khi đức giáo hoàng dọa ra vạ tuyệt thông nhà vua thì lúc ấy ÐGM Richard mới được yên.

Ðức giám mục Richard rất nhân từ với người dân nhưng ngài kiên quyết đương đầu với các giáo dân xấu mà không biết hối lỗi.

Người ta kể rằng khi Ðức Richard lâm bệnh nặng, ngài đã được Chúa cho biết trước ngày giờ và nơi chết. Ngài từ trần năm 1253, khi năm mươi năm tuổi. Vào năm 1262, Ðức Giáo Hoàng Urbanô IV đã phong thánh cho ngài.

 
(Lm. Phêrô Nguyễn Ngọc Mỹ)

Phanxicô đã sống để ca ngợi và mến yêu Thiên Chúa. Cuộc đời của Thánh Phanxicô ở Paola là câu trả lời rõ ràng cho thế giới quá sôi động.

Thánh Phanxicô ở Paola là một người chân thành yêu quý sự chiêm niệm cô độc và ao ước duy nhất của ngài là trở nên "người thấp hèn nhất trong nhà Chúa." Tuy nhiên, khi Giáo Hội kêu gọi ngài làm việc phục vụ xã hội, ngài đã trở nên một nhà hoạt động phi thường và có ảnh hưởng đến đường hướng của nhiều quốc gia.

Sau khi tháp tùng cha mẹ trong chuyến hành hương đến Rôma và Assisi, Phanxicô bắt đầu cuộc sống ẩn tu trong một cái hang hẻo lánh ở ven biển gần Paola. Trước khi ngài 20 tuổi, đã có một môn đệ đầu tiên muốn theo lối sống của ngài. Mười bảy năm sau, khi số môn sinh ngày càng gia tăng, Phanxicô đặt ra một quy luật cho cộng đoàn khắc khổ của ngài và xin Giáo Hội chuẩn nhận. Từ đó phát sinh tổ chức các Ẩn Tu của Thánh Phanxicô Assisi, được Toà Thánh chấp thuận năm 1474.

Vào năm 1492, Phanxicô đổi tên cộng đoàn thành "Minims" vì ngài muốn họ trở nên những người bé mọn nhất trong nhà Chúa. Sự khiêm tốn là tiêu chuẩn của các tu sĩ này cũng như cuộc đời của Phanxicô. Ngoài các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời, Phanxicô còn thêm một bó buộc thứ tư là luôn luôn ăn chay. Ngài tin rằng sự hãm mình quyết liệt rất cần thiết để phát triển tâm linh.

Cho đến khi từ trần, Elisabetta đã hướng dẫn tu hội Các Chị Em Dòng Ba Phanxicô trong việc giáo dục cũng như chăm sóc người già, trẻ mồ côi và người đau yếu. Ngài luôn luôn kết hợp sự đau khổ của chính ngài với sự đau khổ của Ðức Kitô và Ðức Mẹ Sầu Bi.

Cuộc đời của chân phước Elisabetta đã được hướng dẫn bởi câu phúc âm "Tình yêu Ðức Kitô đã thúc giục chúng ta tiến bước" (2 Cor. 5:14).

Sinh ở Bassano del Grappa gần Treviso, khi 27 tuổi Elisabetta từ chối lời cầu hôn và nhất quyết giúp người nghèo bớt đau khổ về thể xác cũng như tinh thần. Năm 1820, ngài khởi sự làm việc trong một cô nhi viện ở tỉnh nhà và gia nhập dòng Ba Phanxicô vào năm sau đó.

Sau khi di chuyển đến Padua năm 1828, ngài tiếp tục phục vụ các trẻ em cô nhi. Vào năm 1830, ngài thành lập tu hội Các Chị Em Dòng Ba Phanxicô của Thánh Elizabeth Hung Gia Lợi. Cho đến khi từ trần, Elisabetta đã hướng dẫn tu hội này trong việc giáo dục cũng như chăm sóc người già, trẻ mồ côi và người đau yếu. Ngài luôn luôn kết hợp sự đau khổ của chính ngài với sự đau khổ của Ðức Kitô và Ðức Mẹ Sầu Bi.

Ngài được phong chân phước năm 1990.

Lời Bàn

Những người thánh thiện cho chúng ta thấy tình yêu Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân là hai mặt của một đồng tiền. Tình yêu Thiên Chúa nâng đỡ chúng ta khi chúng ta thi hành những việc nhỏ bé để nói lên lòng yêu mến tha nhân. Chúng ta thường bất lực khi phải thi hành những gì cần thiết, nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta thi hành những gì có thể làm được.

Lời Trích

Trong bài giảng lễ phong chân phước cho Elisabetta, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói sự cầu nguyện của Elisabetta đã đem lại "sức năng động của Ngôi Lời Nhập Thể, để ca ngợi và khâm phục Ðức Kitô Nghèo Hèn và Chịu Ðóng Ðinh, mà chân phước đã nhận ra và phục vụ Người trong các người nghèo." Sau đó, đức giáo hoàng nói thêm: "Chân Phước Elisabetta dạy chúng ta rằng khi đức tin vững mạnh và chắc chắn, chúng ta càng dám bác ái đối với tha nhân. Khi sự nhận biết về Ðức Kitô càng sắc sảo, chúng ta càng cảm nhận được nhu cầu của anh chị em chúng ta một cách chính xác và đúng đắn" (1990, tập 46, số 1).

Hạnh thánh – tháng 04

Trong bốn mươi năm, hầu như lúc nào Thánh Hugh cũng đau yếu, bị nhức đầu dữ dội và đau bao tử. Tuy nhiên ngài vẫn gắng sức làm việc vì yêu mến dân chúng.

Thánh Hugh sinh năm 1052 ở Pháp. Ngài là một người cao lớn, đẹp trai và hòa nhã. Mặc dù ngài muốn tận hiến cho Thiên Chúa trong đan viện, nhưng ngài đã được ban cho một địa vị quan trọng. Ngài được thụ phong linh mục và sau đó được tấn phong giám mục.

Ngay khi làm giám mục, Ðức Hugh bắt đầu sửa đổi các tật xấu của nhiều người trong giáo phận. Ngài hoạch định nhiều chương trình khôn ngoan, nhưng đó chưa phải là tất cả những gì ngài thực hiện. Ðể xin Thiên Chúa thương xót đến người dân, ngài cầu nguyện với tất cả tâm hồn. Ngài hy sinh hãm mình cực độ. Trong một thời gian ngắn, nhiều giáo dân trong địa phận đã trở lại với nếp sống đạo đức. Chỉ có giới trưởng giả là tiếp tục chống đối ngài.

Tuy là giám mục, Ðức Hugh vẫn mong muốn đời sống một đan sĩ. Ðó là điều ngài thực sự mong ước. Ngài từ chức giám mục của giáo phận Grenoble và gia nhập đan viện. Tưởng đã yên thân, nhưng đó không phải là ý Chúa. Chỉ sau một năm, đức giáo hoàng đã yêu cầu ngài trở về Grenoble. Và Ðức Hugh đã vâng lời. Ngài biết rằng làm vui lòng Thiên Chúa thì quan trọng hơn là thoả mãn ý riêng.

Trong bốn mươi năm, hầu như lúc nào ngài cũng bị đau yếu. Ngài bị nhức đầu dữ dội cũng như bị đau bao tử. Tuy nhiên ngài vẫn gắng sức làm việc vì yêu mến dân chúng. Ngài chịu đau khổ vì những thử thách và cám dỗ. Nhưng nhờ sự cầu nguyện, ngài không bao giờ chịu thua tội lỗi.

Ðức Hugh từ trần ngày 1 tháng Tư 1132, chỉ hai tháng trước khi mừng sinh nhật thứ tám mươi của ngài, sau khi chu toàn bổn phận của một giám mục trong năm mươi hai năm.

Vào năm 1134, chỉ hai năm sau khi ngài từ trần, Ðức Giáo Hoàng Innôxentê II đã tuyên xưng ngài là thánh.

 
(Lm. Phêrô Nguyễn Ngọc Mỹ)

Benjamin tuyên bố rằng rao giảng Ðức Kitô là một nhiệm vụ mà ngài không thể im lặng.

Kitô Hữu ở Ba Tư vui hưởng thái bình trong 12 năm dưới sự cai trị của Isdegerd, con vua Sapor III, thì vào năm 420 quốc gia này bị khuấy động bởi sự hăng hái thiếu khôn ngoan của Abdas, vị giám mục Công Giáo đã đốt Ðền Thần Lửa, một đền thờ của người Ba Tư. Vua Isdegerd đe dọa sẽ thiêu hủy tất cả các nhà thờ Công Giáo, nếu đức giám mục không xây lại đền thờ ấy.

Khi đức giám mục Abdas từ chối tuân hành, lời đe dọa đã trở thành sự thật; các nhà thờ trên toàn quốc bị thiêu hủy, chính ĐGM Abdas thì bị tử hình, và một cuộc bách hại toàn diện kéo dài đến bốn mươi năm. Vua Isdegerd từ trần năm 421, nhưng thái tử kế vị là Varanes, tiếp tục bách hại Kitô Hữu một cách dữ dội hơn. Các Kitô Hữu bị tra tấn thật dã man.

Một trong những người chịu đau khổ là Benjamin, một phó tế, bị kết án tù một năm trời vì Ðức Tin. Vào cuối thời hạn tù, một đại sứ của Hoàng Ðế Constantinople đã xin cho Benjamin được trả tự do, với điều kiện là ngài không được rao giảng đức tin cho các cận thần trong triều đình.

Tuy nhiên, Benjamin tuyên bố rằng rao giảng Ðức Kitô là một nhiệm vụ mà ngài không thể im lặng. Mặc dù ngài đã đồng ý với vị đại sứ và nhà cầm quyền Ba Tư, nhưng ngài không thể tuân lệnh mà bỏ lỡ cơ hội rao giảng Tin Mừng. Một lần nữa ngài lại bị bắt và đưa ra trước nhà vua. Bạo chúa này ra lệnh lấy tre vót nhọn đóng vào các móng tay và thân thể ngài, sau đó lại rút tre ra để máu đổ. Sau khi cực hình này được thi hành vài lần, một cái cọc có nhiều đốt được đóng vào hậu môn để xé nát thân thể ngài. Vị tử đạo đã tắt thở trong sự đau đớn khủng khiếp này vào năm 424.


(Lm. Phêrô Nguyễn Ngọc Mỹ)

Một đan viện trưởng xin thánh nhân viết lại các quy luật mà ngài đã sống trong suốt cuộc đời để các đan sĩ có thể noi theo. Với sự khiêm tốn lớn lao, Thánh Gioan đã viết lại cuốn Ðường Trọn Lành, hoặc Ðỉnh Trọn Lành. Và đó là lý do tại sao ngài được gọi là "Climacus" (Climax=Ðỉnh).

Người ta tin rằng Thánh Gioan sinh ở Palestine trong thế kỷ thứ bảy. Dường như ngài là học trò của Thánh Grêgôriô Nazianzen. Ngài đã có thể trở nên một thầy giáo nổi tiếng, nhưng ngài quyết định phục vụ Thiên Chúa với tất cả tấm lòng. Ngài gia nhập đan viện ở Núi Sinai khi mới 16 tuổi. Sau đó ngài sống cô độc trong 40 năm. Ngài dùng toàn thời gian để cầu nguyện và đọc gương thánh nhân.

Lúc đầu, Thánh Gioan bị ma quỷ cám dỗ. Ngài chịu đủ loại cám dỗ và đam mê xấu xa cốt để ngài bỏ cuộc và phạm tội. Nhưng ngài hoàn toàn tín thác nơi Chúa Giêsu và siêng năng cầu nguyện hơn. Do đó, các cám dỗ không bao giờ khiến ngài phạm tội. Thật vậy, càng ngày ngài càng thánh thiện hơn. Ngài trở nên gần gũi với Thiên Chúa đến nỗi sự thánh thiện của ngài được nhiều người biết đến. Họ đến với ngài để xin được hướng dẫn.

Thánh Phêrô hướng dẫn các tu sĩ qua đời sống gương mẫu của ngài, yêu quý người nghèo cũng như người đau yếu trong tinh thần và nơi thể xác.

Trong thời của Thánh Phêrô Regaldo, lúc ấy thế giới thật nhộn nhịp. Cuộc Ðại Ly Giáo Tây Phương (1378-1417) được giải quyết trong Công Ðồng Constance (1414-1418). Nước Pháp và nước Anh đang đánh nhau trong Cuộc Chiến 100 Năm, và năm 1453 Ðế Quốc Byzantine hoàn toàn bị xoá sạch bởi sự bại trận của Constantinople trước sự tấn công của người Thổ Nhĩ Kỳ. Khi Thánh Phêrô từ trần, lúc ấy ngành in mới bắt đầu ở Ðức, và Columbus khám phá ra Tân Thế Giới chưa đầy 40 năm sau.

Thánh Phêrô sinh trong một gia đình giầu có và đạo đức ở Vallodolid, Tây Ban Nha. Vào năm 13 tuổi, ngài được phép gia nhập dòng Phanxicô. Sau khi chịu chức ít lâu, ngài được bầu làm bề trên tu viện ở Aguilar. Ngài là người lãnh đạo một tổ chức các tu sĩ dòng muốn sống cuộc đời thật khó nghèo và ăn năn đền tội cách liên lỉ. Vào năm 1442, ngài được chọn làm thủ lãnh của các tu sĩ Phanxicô người Tây Ban Nha trong nhóm.

Thánh Phêrô hướng dẫn các tu sĩ qua đời sống gương mẫu của ngài. Ðặc điểm của ngài là yêu quý người nghèo cũng như người đau yếu. Nhiều câu chuyện phép lạ được người ta kể lại về lòng bác ái của ngài đối với người nghèo. Tỉ như, thực phẩm dường như không bao giờ vơi khi ngài phân phát cho người nghèo. Trong suốt cuộc đời, Thánh Phêrô luôn luôn ăn chay, ngài chỉ dùng bánh mì và nước lã.

Ngay sau khi ngài từ trần vào ngày 31 tháng Ba, 1456, ngôi mộ ngài đã trở nên trung tâm hành hương. Ngài được phong thánh năm 1746.

Hai anh em giúp đỡ và khuyến khích các Kitô Hữu trung thành với Ðức Kitô. Tâm hồn hai người tràn ngập tình yêu thương tha nhân nên không còn nghĩ đến chính mình.

Vua Sapor của Ba Tư lên ngôi cai trị trong thế kỷ thứ tư. Ông rất ghét Kitô Hữu và bách hại họ một cách dã man. Ông thiêu hủy các nhà thờ và đan viện. Hai anh em tên Jonas và Barachisius nghe biết về sự bách hại này. Hai người cũng biết là nhiều Kitô Hữu đã bị chết.

Hai anh em tìm cách giúp đỡ các Kitô Hữu và khuyến khích họ trung thành với Ðức Kitô. Jonas và Barachisius biết rằng, chính họ cũng có thể bị bắt. Nhưng sự lo sợ đó không làm họ chùn bước. Tâm hồn hai người tràn ngập tình yêu thương tha nhân nên không còn nghĩ đến chính mình.

Sau cùng, hai anh em bị cầm tù. Họ được bảo rằng, nếu họ không thờ lạy mặt trời, mặt trăng, nước và lửa, thì họ sẽ bị tra tấn và bị giết chết. Ðương nhiên, họ từ chối thờ phượng bất cứ sự vật gì và bất cứ ai ngoại trừ một Thiên Chúa chân thật. Họ chịu đau khổ ghê gớm nhưng vẫn kiên gan cầu nguyện. Họ luôn nghĩ về sự thống khổ của Ðức Kitô. Cả hai bị tra tấn cách khủng khiếp nhưng vẫn không chối bỏ đức tin. Sau cùng, họ bị tử hình và đã vui vẻ dâng hiến mạng sống cho Thiên Chúa.

Cả hai tử đạo vào năm 327.

 
(Lm. Phêrô Nguyễn Ngọc Mỹ)

Cookies erleichtern die Bereitstellung unserer Dienste. Mit der Nutzung unserer Dienste erklären Sie sich damit einverstanden, dass wir Cookies verwenden.
Ok