Offcanvas Section

You can publish whatever you want in the Offcanvas Section. It can be any module or particle.

By default, the available module positions are offcanvas-a and offcanvas-b but you can add as many module positions as you want from the Layout Manager.

You can also add the hidden-phone module class suffix to your modules so they do not appear in the Offcanvas Section when the site is loaded on a mobile device.

Mặc dù Thánh Joan ở Valois phải đau khổ vì tàn tật, nhưng ngài đã kiên nhẫn chấp nhận sự bất lực ấy và dành nhiều thời giờ để cầu nguyện và suy niệm.

Thánh Joan là cô con gái thứ hai của Vua Louis XI nước Pháp. Khi mới sinh được hai tháng thì ngài đã được hứa gả cho Công Tước Louis ở Orleans, và hôn nhân của họ xảy ra vào năm 1476 khi ngài mới 12 tuổi. Dĩ nhiên đó là một hôn nhân không có giá trị, và Công Tước Louis lấy ngài cũng chỉ vì lo sợ cho tương lai không biết sẽ ra sao nếu không tuân lệnh của nhà vua.

Joan là một thiếu nữ tật nguyền, ngài bị gù lưng, đi khập khiễng và bị rỗ. Mặc dù ngài phải đau khổ vì tàn tật, nhưng ngài đã kiên nhẫn chấp nhận sự bất lực ấy và dành nhiều thời giờ để cầu nguyện và suy niệm.

Thánh Valentine là một linh mục thánh thiện ở Rôma cũng như là một y sĩ, ngài đã cùng với Thánh Marius giúp đỡ các vị tử đạo trong thời Claudius II. Vì không chịu từ bỏ đức tin, ngài được tử đạo vào ngày 14 tháng Hai.

Người ta nghĩ rằng Thánh Valentine đã từng là linh mục ở Rôma cũng như là một y sĩ. Vì không chịu từ bỏ đức tin, ngài được tử đạo vào ngày 14 tháng Hai. Chúng ta không biết gì nhiều về ngài, nhưng ngay vào khoảng năm 350, một nhà thờ đã được xây cất nơi ngài tử đạo.

Truyền thuyết nói rằng ngài là một linh mục thánh thiện đã cùng với Thánh Marius giúp đỡ các vị tử đạo trong thời Claudius II. Ngài bị bắt, và bị gửi cho tổng trấn Rôma xét xử. Sau khi dụ dỗ mọi cách nhưng đều vô hiệu, quan tổng trấn đã ra lệnh cho lính dùng gậy đánh đập ngài, sau đó đưa đi chém đầu vào ngày 14 tháng Hai, khoảng năm 269. Người ta nói rằng Ðức Giáo Hoàng Julius I đã cho xây một nhà thờ gần Ponte Mole để kính nhớ ngài.

Cyril sáng chế ra bản mẫu tự tiếng Slav, Methodius đã chuyển dịch toàn bộ Phúc Âm sang tiếng Slav… Các ngài là thánh không phải vì đã đưa phụng vụ vào tiếng Slav, nhưng vì các ngài đã thi hành điều ấy với sự can đảm và khiêm tốn của Ðức Kitô.

Vì thân phụ của hai thánh nhân là một sĩ quan trong phần đất của Hy Lạp nhưng có nhiều người Slav chiếm ngụ, do đó hai anh em thánh nhân đã trở nên nhà truyền giáo, thầy dạy và quan thầy của người Slav.

Sau thời gian học tập, Cyril (thường được gọi là Constantine cho đến khi ngài trở thành tu sĩ ít lâu trước khi từ trần) đã từ chối địa vị trong chính quyền mà anh ngài đã chấp nhận làm việc cho những người nói tiếng Slav. Ngài gia nhập một đan viện là nơi anh ngài, Methodius, đã là một đan sĩ sau thời gian giữ chức vụ trong chính quyền.

Trong thập niên 1860, các nhà truyền giáo lại đến Nagasaki và họ tìm thấy một cộng đoàn Kitô Giáo tuy nhỏ nhưng thật vững mạnh, được khai sinh vào lúc các vị chịu tử đạo. 

Nagasaki nổi tiếng đối với chúng ta vì một trái bom nguyên tử đã thả xuống đây năm 1945. Thành phố ấy cũng nổi tiếng đối với dòng Phanxicô vì một số tu sĩ và anh chị em dòng ba đã được tử đạo ở đây năm 1597.

Cha Phêrô Baptist Blasquez sinh năm 1542 trong một gia đình quyền quý ở Tây Ban Nha; ngài gia nhập dòng Phanxicô ở quê nhà. Ngài làm việc vài năm ở quần đảo Phi Luật Tân, và năm 1592 ngài được cử làm đại diện cho Vua Philip II của Tây Ban Nha để thương thảo hòa bình với Hideyoshi, đang nắm quyền ở Nhật Bản.

Ngày 11 tháng Hai 1858, tại Lộ Đức, một trinh nữ đã hiện ra với Bernadette Soubirous, mở đầu cho một chuỗi thị khải. Trong lần hiện ra ngày 24 tháng Ba, trinh nữ này tự xưng là: "Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội." 

Vào ngày 8 tháng Mười Hai 1854, Ðức Giáo Hoàng Piô IX tuyên bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội trong Hiến Chế Ineffabilis Deus. Khoảng hơn ba năm sau, vào ngày 11 tháng Hai 1858, một trinh nữ đã hiện ra với Bernadette Soubirous, mở đầu cho một chuỗi thị khải. Trong lần hiện ra ngày 24 tháng Ba, trinh nữ này tự xưng là: "Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội."

Anh em sinh đôi thường giống nhau về tính nết và tư tưởng cũng như nhiệt huyết. Do đó, người ta không ngạc nhiên khi Thánh Scholastica và người anh sinh đôi là Thánh Biển Ðức (Benedict), đều sáng lập các tu hội chỉ cách nhau có vài dặm.

Sinh trong một gia đình giầu có, Scholastica và Benedict cùng lớn lên cho đến khi Benedict xa nhà đi học ở Rôma. Chúng ta không biết nhiều về thời niên thiếu của Thánh Scholastica. Sau này, ngài sáng lập dòng nữ tu ở Ý gần rặng Cassino, thuộc Plombariola, cách tu viện của anh ngài chỉ có năm dặm.

Mỗi năm hai anh em chỉ gặp nhau có một lần, trong một nông trại, vì Scholastica không được phép vào tu viện. Cả hai dành thời giờ để thảo luận về các vấn đề tinh thần.

Thánh Giles phản ảnh "đức khiêm hạ của sự Nhập Thể và sự độ lượng của Thánh Thể" (ĐGH Gioan Phaolô 2, L'Observatore Romano 1996).

Chính trong năm Napoleon Bonaparte dẫn quân vào Nga thì Giles Mary của Thánh Giuse chấm dứt cuộc đời khiêm hạ phục vụ cộng đồng Phanxicô và người dân thành Naples.

Tên thật của ngài là Francesco, sinh ở Taranto trong gia đình rất nghèo, và mồi côi cha khi 18 tuổi. Ðể đảm bảo tương lai, ngài gia nhập dòng Phanxicô Khất Thực (Anh Em Hèn Mọn) ở Galatone năm 1754. Trong 53 năm, ngài phục vụ ở Nhà Tế Bần Thánh Paschal ở Naples trong nhiều vai trò, như nấu nướng, gác cửa hoặc thường xuyên nhất là đi khất thực cho cộng đồng.

Thánh Josephine Bakhita là người nô lệ Phi Châu đầu tiên được Giáo Hội phong thánh. Bakhita phải trải qua đủ loại đau khổ về tinh thần, tâm lý và thể xác vì thân phận nô lệ.

Khi vị lãnh sự trở về Ý vì lý do chính trị thì Bakhita cũng xin tháp tùng gia đình ông. Mặc dù sau đó cô tiếp tục làm công cho một gia đình khác, cuộc đời Bakhita ở Ý là một cuộc đời hạnh phúc. Cô được đối xử tử tế và được tôn trọng.

Cô cũng làm quen với các nữ tu dòng Bác Ái Canossa ở Venice; chính họ là những người đã nói với cô về Thiên Chúa là Ðấng mà tự nhiên cô bị thu hút đến với Người. Sau nhiều tháng học hỏi, cô được tháp nhập vào Giáo Hội qua các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Rước Lễ. Cô lấy tên mới là Josephine để đánh dấu một cuộc đời mới trong Ðức Kitô.

Giêrôme Emiliani là một sĩ quan đầy tự tin và khô đạo. Trong thời gian tù đầy, Giêrôme đã có thời giờ suy nghĩ, và ngài quyết định thoát khỏi xiềng xích ràng buộc chính mình.

Khi còn là một sĩ quan đầy tự tin và khô đạo, chỉ huy một pháo đài của thành phố Venice, Giêrôme Emiliani bị bắt sau vụ tấn công của địch thủ là Liên Minh Cambrai và bị nhốt trong một tháp canh. Chính trong thời gian tù đầy này, Giêrôme đã có thời giờ suy nghĩ, và ngài quyết định thoát khỏi xiềng xích ràng buộc chính mình. Ngài khước từ mọi quyến luyến của thế gian và trở về với Thiên Chúa.

Sau khi vượt thoát ngục tù, ngài treo xiềng xích ở nhà thờ Treviso gần đó -- như để nói lên lòng biết ơn đã được tự do không những về phần xác mà còn được giải thoát phần tinh thần.

Lược sử

Thánh Colette không muốn được mọi người biết đến, nhưng trong khi thi hành thánh ý Thiên Chúa, ngài đã gây được sự chú ý của rất nhiều người.

Thánh Colette là con của người thợ mộc tên DeBoilet ở Tu Viện Corby trong thành phố Picardi, nước Pháp. Ngài sinh ngày 13 tháng Giêng, khi rửa tội lấy tên là Nicolette, và thường được gọi là Colette. Năm mười bảy tuổi ngài mồ côi cha mẹ, và đã chia bớt di sản cho người nghèo. Ngài gia nhập dòng Ba Phanxicô, và sống cô độc ở Corby trong một căn phòng mà lối mở ra thế giới bên ngoài chỉ là cánh cửa sổ sát vách với nhà thờ.

Sau bốn năm, với sự chấp thuận và khuyến khích của đức giáo hoàng, ngài từ bỏ cuộc sống cô độc, gia nhập dòng Thánh Clara Nghèo Hèn và cải tổ dòng theo như quy tắc ban đầu của Thánh Clara. Bất kể sự chống đối dữ dội, ngài kiên trì theo đuổi ý định, thành lập mười bảy tu viện sống theo quy tắc này và cải tổ một vài tu viện cũ. Các nữ tu của ngài nổi tiếng là nghèo hèn -- họ từ chối bất cứ lợi tức nào -- và thường xuyên chay tịnh.

Thánh Colette nổi tiếng vì sự thánh thiện, sự xuất thần, và các lần thị kiến sự Thương Khó, và ngài đã tiên đoán đúng về cái chết của ngài trong tu viện ở Ghent, nước Bỉ.

Phong trào cải cách của thánh nữ đã lan tràn sang các quốc gia khác. Cho đến ngày nay, một nhánh của dòng Thánh Clara Nghèo Hèn thường được gọi là các nữ tu Colette.

Suy niệm 1: Thi hành Thiên Ý

Thánh Colette không muốn được mọi người biết đến, nhưng trong khi thi hành thánh ý Thiên Chúa, ngài đã gây được sự chú ý của rất nhiều người.

Đức Maria là một thôn nữ nghèo hèn nhưng đã được nổi danh, là nhờ vào việc thi hành thánh ý Thiên Chúa (Lc 1,38), và cũng nhờ đó mà hoàn thành sứ mạng đồng công cứu chuộc. Cũng thế, nhờ đó mà Đức Giêsu đã hoàn thành công cuộc cứu nhân độ thế.

Thiên Ý thường được bày tỏ trong Thánh Kinh (Ga 21,24-25), trong lề luật (Đnl 30,10), trong tiếng lương tâm (Gr 31,33), cũng như qua các vị hữu trách (Mt 10,40-44). Nhận ra Thiên Ý là cần thiết nhưng quan trọng hơn nữa đó là thực hiện.

* Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn thi hành Thiên Ý để được vào Nước Trời (Mt 7,21).

Suy niệm 2: Bác ái

Năm mười bảy tuổi Colette mồ côi cha mẹ, và đã chia bớt di sản cho người nghèo.

Dầu còn nhỏ tuổi và ở tình huống mồ côi, nhưng Colette đã sớm sống tình bác ái vị tha đối với người nghèo khi sẵn sàng chia bớt di sản của mình cho họ.

Vị kỷ vốn là một đặc tính của giới thiếu niên, thế nhưng Colette đã sớm vượt lên chính mình để sống vị tha, quả là một tấm gương sáng lạng cho cả người lớn lẫn trẻ nhỏ: tìm hạnh phúc trong việc cho hơn là nhận.

* Lạy Chúa Giêsu, xin giúp giới trẻ biết sống xã thân quên mình hơn là tìm lợi ích cho bản thân.

Suy niệm 3: Cải tổ

Thánh Colette từ bỏ cuộc sống cô độc, gia nhập dòng Thánh Clara Nghèo Hèn và cải tổ dòng theo như quy tắc ban đầu của Thánh Clara.

Colette bắt đầu cuộc cải cách trong thời kỳ Đại Ly Giáo Tây Phương (1378-1417), là thời kỳ có đến ba giáo hoàng và bởi đó đã chia cắt Giáo Hội Tây Phương. Một cách tổng quát, Giáo Hội phải trả một giá rất đắt cho sự nhũng lạm của các giáo sĩ trong thế kỷ 15.

Lời cầu nguyện và sự hy sinh của Thánh Colette và các nữ tu của ngài có lẽ đã vơi bớt những khốn khó cho Giáo Hội trong thời gian ấy. Trong bất cứ trường hợp nào, sự cải tổ của Thánh Colette cho thấy Giáo Hội luôn luôn cần theo sát Đức Kitô.

* Lạy Chúa Giêsu, xin giúp hàng giáo sĩ luôn sống theo sát Đức Kitô, để tránh tình trạng phân hóa Giáo Hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô.

Suy niệm 4: Kiên trì

Thánh Colette kiên trì theo đuổi ý định, thành lập mười bảy tu viện sống theo quy tắc này và cải tổ một vài tu viện cũ.

Kiên trì quả là một đức tính nhân bản cần thiết cho người lãnh đạo, cũng như cho bậc tu trì vốn đã có những lời khấn hứa.

Chính vì thế, trong chúc thư tinh thần, Thánh Colette viết cho các nữ tu: "Chúng ta phải trung tín với những gì đã hứa. Nếu vì sự yếu đuối con người mà chúng ta sa ngã, một cách mau mắn chúng ta phải chỗi dậy luôn qua sự thành tâm sám hối, và chú ý đến một đời sống tốt lành, cũng như một cái chết thánh thiện."

* Xin Thiên Chúa là Cha của lòng thương xót, xin Chúa Con qua sự thống khổ thánh thiện, và xin Chúa Thánh Thần, nguồn mạch của bình an, nhân hậu và tình yêu, luôn tràn lấp chúng ta với ơn an ủi của các Ngài.

Suy niệm 5: Nghèo hèn

Các nữ tu của ngài nổi tiếng là nghèo hèn -- họ từ chối bất cứ lợi tức nào -- và thường xuyên chay tịnh.

Đức khó nghèo sẽ dễ sống được khi được hậu thuẫn bởi tinh thần nghèo khó. Quả vậy một người nghèo của cải vật chất mà thiếu tinh thần nghèo khó thì luôn bất an vì hằng bị thiêu dốt bởi lòng ham mê của cải để rồi có thể sinh lòng trộm cắp (Cn 30,9).

Ngược lại một người lắm tiền nhiều của nhưng có tinh thần nghèo, thì không trở thành nô lệ chúng, để rồi biết sử dụng như một viên quản lý tốt lành, hầu giúp đỡ cho những người thiếu may mắn hơn.

* Lạy Chúa Giêsu, xin đừng để chúng con túng nghèo, cũng đừng cho chúng con giàu có; chỉ xin cho chúng con cơm bánh cần dùng, kẻo được quá đầy dư, chúng con sẽ khước từ Ngài mà nói: "Đức Chúa là ai vậy?" hay nếu phải túng nghèo, chúng con sinh ra trộm cắp, làm ô danh Thiên Chúa (Cn 30-8-9).

Suy niệm 6: Thương Khó

Thánh Colette nổi tiếng vì sự thánh thiện, sự xuất thần, và các lần thị kiến sự Thương Khó

Tự bản chất sự Thương Khó là chén đắng không phàm nhân nào muốn uống (Mt 26,39), nhưng Đức Giêsu đã uống cạn, vì đó là con đường cứu thế (Lc 24,26).

Đức Maria cũng đã can đảm vững tiến trên con đường Thương Khó này (Lc 2,35), cũng như các tông đồ dấu yêu (Mt 20,23), và dĩ nhiên những ai muốn làm môn sinh tín trung của Đức Giêsu (Mt 16,24).

* Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con cùng chết với Chúa để được cùng sống lại với Ngài (Rm 6,8).

Lm. Phêrô Nguyễn Ngọc Mỹ

Cookies make it easier for us to provide you with our services. With the usage of our services you permit us to use cookies.
More information