Offcanvas Section

You can publish whatever you want in the Offcanvas Section. It can be any module or particle.

By default, the available module positions are offcanvas-a and offcanvas-b but you can add as many module positions as you want from the Layout Manager.

You can also add the hidden-phone module class suffix to your modules so they do not appear in the Offcanvas Section when the site is loaded on a mobile device.

Thủ Tục Bổ Nhiệm Giám Mục theo tài liệu của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ

Dẫn Nhập

Quyết định cuối cùng trong việc bổ nhiệm các Đức Giám Mục thuộc về Đức Giáo Hoàng, và ngài có toàn quyền tự do chọn lựa. Nhưng làm thế nào để ngài biết mà lựa chọn ai?

Tiến trình lựa chọn ứng viên cho chức Giám Mục thường bắt đầu ở cấp giáo phận và tiến hành theo thủ tục qua hàng loạt cuộc tham vấn cho đến khi lên đến Roma. Đó là một tiến trình ràng buộc bởi sự bảo mật nghiêm ngặt, với các tác nhân quan trọng – thành phần có ảnh hưởng nhất là Sứ thần Tòa thánh, Thánh bộ Giám mục, và Đức Giáo Hoàng. Đây có thể là một tiến trình tốn nhiều thời gian, thường mất tám tháng hoặc lâu hơn để hoàn thành. Trong khi có những khác biệt giữa việc bổ nhiệm thăng cấp một linh mục trở thành giám mục, với việc bổ nhiệm thuyên chuyển vị giám mục đến giáo phận khác hoặc thăng chức trở thành tổng giám mục, những bước căn bản của tiến trình lựa chọn vẫn giống như nhau.

Những Danh Từ Thiết Yếu

Khâm sứ Tòa thánh – Là vị khâm sứ đại diện của Đức Giáo Hoàng đối với chính quyền và hàng giáo phẩm của một quốc gia; người chủ chốt trong việc quyết định danh sách những ai được đề nghị lên Thánh bộ Giám mục để có thể được chọn bổ nhiệm.

Giám Mục Phụ Tá – Một giám mục được bổ nhiệm để trợ giúp Đức Giám Mục giáo phận. Dù trong giáo phận hay tổng giáo phận, tước hiệu của ngài đều là Giám Mục.

Giám mục Phó – Một giám mục được bổ nhiệm vào một giáo phận hoặc tổng giáo phận Công Giáo để trợ giúp vị giám mục giáo phận. Khác với Giám Mục Phụ Tá, ngài có quyền kế vị, nghĩa là ngài sẽ tự động trở thành giám mục chính tòa mới khi giám mục giáo phận nghỉ hưu hoặc chết. Theo giáo luật, ngài cũng là tổng đại diện của giáo phận. Nếu giáo phận là một tổng giáo phận, ngài được gọi là tổng giám mục phó thay vì giám mục phó. Trong những năm gần đây, một số các giám mục Hoa Kỳ tại các giáo phận hoặc tổng giáo phận lớn đã xin và có được vị Giám Mục Phó trong năm cuối hoặc hai năm trước khi nghỉ hưu, để người kế vị làm quen với mục vụ của giáo phận trước khi ngài phải tiếp quản giáo phận. Điều này giảm thiểu con đường tập sự của vị giám mục mới và loại bỏ hoàn toàn khả năng giáo phận bị trống tòa khi vị giám mục cũ nghỉ hưu.

LTS: Hướng Dẫn Giáo Dân Thực Thi Sứ Vụ Thừa Sai là tựa đề bài thuyết trình của LM. GB. Trương Thành Công được trình bày trong dịp Hội Thảo Loan Báo Tin Mừng tại Huế đầu tháng 9 vừa qua. Nhận thấy đây là tài liệu đề nghị những việc Thực Thi Sứ Vụ Loan Báo Tin Mừng rất cụ thể và thực tế nên VietCatholic trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả

I. SỨ VỤ THỪA SAI CỦA TÍN HỮU CHÚA KITÔ

- Chúa Giêsu nhập thể làm người và đứng vào vị trí của một người như mọi người, cho thấy một người dân thường, một người giáo dân, có vai trò truyền giáo tốt nhất. Tự thân là Con Thiên Chúa nhập thể làm người, ẩn thân trong vai một bác thợ, Chúa Giêsu thực sự là nhà "thừa sai giáo dân" đầu tiên.

- Lệnh truyền "sai đi" của Chúa Giêsu trước tiên dành cho các tông đồ và các môn đệ cũng thuộc tầng lớp dân dã được Chúa Giêsu kêu gọi và sai đi rao giảng Tin Mừng. Sau đó, lệnh truyền này còn nhằm tới tất cả các tín hữu nữa: "Chính anh em là chứng nhân về những điều này” (Lc 24,48). Sứ vụ thừa sai này đòi buộc tất cả những ai đã lãnh Bí tích Rửa Tội, nhất là Bí tích Thêm Sức, mọi nơi mọi thời. "Tất cả mọi giáo dân là thừa sai theo Phép Rửa" (Tđ. Sứ Vụ Đấng Cứu Độ, số 71)

- Quy tụ tông đồ và huấn luyện truyền giáo đó là công tác đầu tiên và quan trọng của Chúa Giêsu trong sự nghiệp loan báo Tin Mừng. Ngài đã cho các ông sống với mình, chứng kiến các phép lạ, nghe giảng dạy và giải thích riêng, trước khi sai đi rao giảng. Vì thế các tín hữu cũng cần được các mục tử qui tụ, đào luyện và hướng dẫn để thực thi sứ vụ thừa sai.

- Tại Việt Nam, sứ vụ loan báo Tin Mừng thường được hiểu là bổn phận chỉ dành cho các linh mục tu sĩ. Ngược lại, nhiều giáo dân rất nhiệt tình và sẵn lòng "lên đường", nhưng lại không được sai đi, hoặc không biết bắt đầu từ đâu, hoặc không biết cách nào hữu hiệu để thực thi sứ mạng truyền giáo. Vì thế, phải cấp thiết gây ý thức và thúc bách giáo dân thi hành sứ vụ thừa sai; đồng thời các mục tử cần phải hướng dẫn cũng như tạo điều kiện để các tín hữu tham gia vào công cuộc truyền giáo.

- Dù linh mục tu sĩ là thành phần nòng cốt, nhưng giáo dân bao giờ cũng là “lực lượng” đông đảo và mạnh mẽ hơn, không thể thiếu trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Do đó, không vận dụng được giáo dân vào việc truyền giáo là một mất mát, nếu không nói là, hoang phí nhân sự và sai sót về đường hướng loan báo Tin Mừng.

- Thấy được yêu cầu cấp bách của Giáo hội Việt Nam và cách riêng cho UBLBTM, Đức Cha Chủ Tịch, Cha Thư ký và UBLBTM đã tổ chức Cuộc Hội thảo Truyền giáo năm 2018 này, với chủ đề thực tiễn: “Được Rửa Tội và Được Sai Đi”, nhằm đưa ra những thực hành hướng dẫn giáo dân Việt Nam tham gia vào sứ vụ truyền giáo.

Rất đồng tình và hoan nghênh định hướng trên đây, chúng con xin đóng góp vài nhận định và thực hành cụ thể, đã áp dụng trong 12 năm công tác truyền giáo tại 3 giáo điểm, nhằm góp phần vào việc hướng dẫn giáo dân lên đường thi hành sứ vụ thừa sai Tin Mừng.

Cộng đoàn “Tin mừng Sự sống”, gọi tắt là GOLD, được sơ Maria Chúa Ba Ngôi thành lập năm 2009 để đón tiếp những người già yếu thuộc mọi cảnh đời, đến sống chung với nhau trong cùng phẩm giá và tình yêu, dưới một mái nhà như một gia đình Tin mừng.

Vào năm 2009, Sơ Maria Chúa Ba Ngôi đang sống hạnh phúc trong một cộng đoàn tại Pháp. Nhưng rồi qua kinh nghiệm thiêng liêng, sơ tin rằng mình được Chúa mời gọi trở về thành phố Oklahoma để bắt đầu sứ vụ chăm sóc người già yếu.

Ban đầu, sơ Maria nghĩ điều này có vẻ điên khùng, nhưng sơ có kinh nghiệm thiêng liêng của bà mình. Bà của sơ đã lớn lên tại một nông trại nhỏ ở Oklahoma và vì thế sơ cảm thấy tiếng gọi mời đến đó. Trước đó, sơ Maria chưa bao giờ nghĩ đến việc rời cộng đoàn của mình ở Pháp vì sơ rất hạnh phúc ở đó. Vì vậy, sau khi đã phân định kỹ càng để chắc chẳn rằng kinh nghiệm này và lời mời gọi này là của Chúa, sơ đã lên đường đi Oklahoma.

Cộng đoàn “Tin mừng Sự sống”: phát triển sự đơn giản, tình liên đới, quản lý và phục vụ người nghèo

Khi sơ Maria đến thành phố Oklahoma, sơ gia nhập giáo xứ Công giáo thánh Giacôbê. Được cha Bill Pruett giúp đỡ, sơ Maria đã thành lập nhà cư trú “Tin mừng Sự sống” đầu tiên tại một cơ sở của giáo xứ. Toàn bộ hoạt động của các môn đệ của cộng đoàn GOLD tại 4 nhà ở thành phố Oklahoma và một nhà ở Texas hoàn toàn được tài trợ và điều hành do các tình nguyện viên. Sơ Maria miêu tả cộng đoàn GOLD như một cộng đoàn chiêm niệm, đồng hành tích cực với cuộc sống trong những thời khắc dễ tổn thương nhất và theo tinh thần của thánh Phanxicô Assisi. Cộng đoàn cổ võ và phát triển sự đơn giản, tình liên đới, quản lý và phục vụ người nghèo.”

Từ 40 năm nay, bà Pat Boerschinger bị mù hoàn toàn. Tuy mắt không nhìn thấy, nhưng niềm tin vào Thiên Chúa và lòng sùng kính Mẹ Maria đã hướng dẫn mỗi bước đi của bà trong cuộc sống.

Vào năm 1978, bà Pat bị chẩn đoán viêm võng mạc sắc tố, một chứng bệnh thoái hóa thị giác hiếm gặp, do những bất thường về gien. Bà Pat chia sẻ rằng: “Việc khám phá ra mình bị chứng thoái hóa về mắt đã làm cho tôi suy sụp. Ban đầu, khi thị giác của tôi kém đi, bác sĩ nói với tôi rằng tôi sắp bị mù và ông không thể làm điều gì để giúp tôi, cũng như tôi cũng không thể làm gì hơn được nữa. Ông còn nói với tôi là tôi chỉ nên đi về nhà và đừng than khóc về điều này.”

Tin tưởng vào sự hướng dẫn và trợ giúp của Mẹ Maria

Thế nhưng, bà Pat nhớ lại, bà đã khóc suốt trên đường trở về nhà. Khi về đến nhà, bà suy nghĩ: “Ông ta là ai mà có thể nói với tôi rằng tôi không thể làm gì được?” Điều bà Pat làm chính là chạy đến với Chúa và Mẹ Maria. Bà kể lại: “Tôi đã lớn lên với ý nghĩ rằng Mẹ Maria là người tôi yêu quý. Từ khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ, lý luận, tôi luôn nghĩ rằng nếu có Mẹ ở bên cạnh tôi thì tôi không thể đi sai đường, làm điều xấu.”

Lòng sùng kính Mẹ Maria của bà Pat có thể đã xuất phát từ sự nuôi dạy của gia đình cũng như được ở gần một nhà nguyện, ngày nay là đền thánh quốc gia Đức Bà Cứu giúp ở Champion, bang Wisconsin, nơi Đức Mẹ đã hiện ra với Adele Brise vào năm 1859. Vào năm 1871, khi một trận hỏa hoạn xảy ra trong một khu rừng gần Green Bay, ông của bà Pat, khi ấy mới 7 tuổi, đã cùng với gia đình thoát được trận hỏa hoạn dữ dội đó nhờ chạy vào ẩn náu trong đền thánh. Về phần mình, bà Pat được sinh ở Green Bay, lớn lên tại Tonet, chỉ cách đền thánh khoảng 3 cây số. Ngay từ khi còn nhỏ, bà Pat đã đến đền thánh cầu nguyện vào tháng 5 và những ngày lễ. Sau khi lập gia đình, bà vẫn cùng chồng đến đền thánh vào ngày lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời và tham dự thánh lễ ở đó.

Bà Pat nhớ lại, khi còn là một đứa trẻ, một trong những lần bà đã đến cầu xin Đức Mẹ giúp đỡ chính là khi cha của bà bị nghiện rượu. Bà kể: “Tôi luôn sợ hãi gặp cha của tôi khi ông đi làm về, vì vậy tôi đã cầu nguyện với Đức Mẹ rất nhiều. Lời cầu nguyện của tôi đã được nhận lời, bởi vì cha của tôi là một người tuyệt vời sau khi ông đã cai nghiện được rượu.”

Năm 1968, bà Pat đã gặp chồng tương lai của bà và họ kết hôn với nhau vào tháng 12 cùng năm đó. Vợ chồng bà đã điều hành một dưỡng đường ở Bellevue 31 năm, cho đến khi họ bán nó vào năm 1999. Họ tiếp tục điều hành một dưỡng đường khác nhỏ hơn và bà Pat hoạt động trong dưỡng đường với công việc trả lời điện thoại.

LTS: VietCatholic đăng bài "Người Công Giáo Và Nhà Thờ Tộc" chỉ nhằm trình bày một quan điểm về hiếu thảo của người Công Giáo Việt Nam. Quan điểm này của tác giả Gioan Lê Quang Vinh không nhất thiết phản ảnh lập trường chính thức của ViệtCatholic.

Gần đây có phong trao xây “nhà thờ tộc”, nói theo tiếng Hán Việt là “từ đường”. Người Công Giáo có nên theo tập tục này hay không?

Nhà thờ họ tộc ấy là ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ. Người cùng họ, cùng gốc tụ họp tại từ đường mỗi năm mấy lần vào dịp giỗ chạp, cúng ông bà và trò chuyện cùng nhau.

Người Công Giáo có nên giữ tập tục này hay không?

Điều đầu tiên cần nhấn mạnh là Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đề cao chữ hiếu. Trong mười Giới Răn Chúa truyền, giới răn Thảo hiếu đứng hàng thứ tư, sau ba giới răn về việc thờ phượng Thiên Chúa.

Giáo Hội cũng luôn nhắc nhở cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Điều đặc biệt là dù người ta không cầu nguyện cho ông bà tổ tiên của họ, thì trong các Thánh Lễ, Giáo hội vẫn nhớ cầu nguyện thay cho họ.

Bài thuyết trình của Gioan Lê Quang Vinh tại Hội Thảo Loan Báo Tin Mừng tại Huế 2018

Tin mà Chúa Giêsu mang đến cho nhân loại là Tin Mừng, Tin Vui. Mà lạ lắm, ở nhiều nơi, nhiều thời, người ta từ chối Tin Mừng này cách phũ phàng. Cái lạ thứ hai là người ta không những không đón nhận nó, mà hễ thấy ai đón nhận là họ thù ghét, họ giết đi.

Chúng ta thừ tưởng tượng khi nhận thiệp báo tin vui chịu chức linh mục hay khấn dòng, chúng ta vui mừng. Nếu ai không quan tâm thì cũng để tấm thiệp trên bàn, chẳng ai khác đời đến độ tìm người nhận thiệp mà đánh.

Suy nghĩ như thế chúng ta thấy việc bách hại người Công Giáo thật là tàn ác và phi lý. Vậy mà chuyện ấy vẫn xảy ra. Thế nhưng khi người Công Giáo chết vì Đạo mình, thì họ không kết thúc cuộc sống của họ và Tin Mừng cũng không vì thế mà biến mất.

Trong tác phẩm Apologeticus(Hộ giáo), ở chương 50,sử gia Công Giáo Tertulianô (160-225) viết: ‘‘Máu các Thánh Tử đạo là hạt giống trổ sinh các tín hữu’’ (Sanguis martyrum semen christianorum).

Tertulianô viết tác phẩm Apologeticus khoảng năm 197 AD, vài năm sau khi ông gia nhập Giáo Hội Công Giáo, để bênh vực người Công Giáo. Lúc bấy giờ hoàng đế Septimus-Severus (193-211) lên nắm chính quyền.

Trong tác phẩm “Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo, linh mục Bùi Đức Sinh O.P. nhận định: “Septimus-Severus là một viên tướng tài ba, quân đội kính nể, tuân phục, ông đã cứu vãn phần nào tình trạng suy sụp của đế quốc. Đối với Kitô giáo, trong những năm đầu ông tỏ ra khoan hồng nếu không nói được là có cảm tình. Trong thời kỳ mới nắm chính quyền, phải đương đầu với họ để củng cố địa vị, và thấy thù địch mình cũng là thù địch Kitô giáo, nên thái độ khoan hồng của Septimus-Severus lúc đầu đối với Kitô giáo càng dễ hiểu. Nhưng vào khoảng năm 201, đột nhiên ông thay đổi thái độ”.

Khi Septimus-Severus bắt đầu cấm đạo gắt gao, các hoạt động của Giáo Hội rút vào trong bóng tối hang Toại đạo Callixtus. Tertullianô đã mô tả những dã man ghê rợn của cuộc bách hại này ở Phi châu, mà đứng đầu là các Thánh Tử Đạo Perpetua và Felicita.

Mẹ Têrêsa thành Mithapur, đó là tên thân thương người dân gọi sơ Elsie Vadakkekara dòng thánh Anna Chúa Quan phòng ở Ấn độ. Nhiều người dân ở Mithapur nhìn thấy nơi người nữ tu 79 tuổi này sự hiện diện của thần linh ở giữa loài người.
 
Mithapur là một tỉnh nằm dọc bờ biển thuộc bang Gujarat, cách thủ đô New Dehli hơn 1000 cây số. Người nữ tu già cúi xuống chăm sóc cho những người bịnh tâm thần sống trên các vệ đường đã chiếm được trái tim của người dân ở thị trấn miền tây Ấn độ này, nơi mà đa số dân theo Ấn giáo. Người dân Mithapur xem sơ Elsie như vị thánh sống. Một tu sĩ Ấn giáo chia sẻ rằng không ai có thể làm công việc sơ Elsie làm; đó là chăm sóc cho người bịnh tâm thần bị bỏ rơi phải sống trên đường phố; sơ cho họ ăn hàng ngày.

Quá ấn tượng với công việc sơ Elsie làm, vị tu sĩ Ấn giáo này đã bảo trợ các bữa ăn ngày Chúa nhật để sơ Elsie giúp cho những người bịnh này. Chính ông và vợ của ông nấu các thức ăn cho họ. Vào các ngày Chúa nhật, sơ Elsie đến nhà của tu sĩ này để lấy thức ăn phân phát cho những người sơ gặp trên đường. Vị tu sĩ nói thêm: “Tôi không thấy ai làm công việc vô vị lợi như thế. Sơ ấy cho họ ăn với tình thương của một người mẹ. Cho những người như thế ăn là điều tôi không thể nghĩ đến.” Tại Ấn độ, nhiều người xem những người bịnh tâm thần như thứ dơ bẩn, tiềm ẩn bạo lực và bị nguyền rủa.

Một phụ nữ giúp sơ Elsie nấu thức ăn tại tu viện, trừ ngày Chúa nhật. Người tài xế giúp sơ Elsie chuyên chở thức ăn là một tín đồ Ấn giáo từng nghiện rượu. Từ khi từ bỏ được tật xấu, ông theo giúp sơ Elsie và không nghỉ ngày nào, vì ông biết nếu ông không giúp thì những người bệnh có thể không được ăn đúng giờ và họ có thể chờ đợi hoài.

Phổ biến chữ quốc ngữ:

Toàn dân con nước Việt đều sung sướng hãnh diện với chữ Quốc ngữ. Trước tiên họ ghi ơn cha Đắc Lộ cùng với một số thừa sai Âu Châu đã dày công tìm tòi và sáng chế ra loại chữ tân kỳ này cho dân tộc ta, dựa theo các mẫu tự La Tinh. Nhưng kế đó là chuyện nhớ ơn các nhà tiền phong đã phổ biến và cải thiện loại chữ thực dụng này. Người được kể tới hàng đầu chính là ông Nguyễn văn Vĩnh.

Công lao ông này nhiều lắm: Là nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà dịch thuật và cũng là nhà chính trị nữa. Nhưng nếu ông không hết lòng phổ biến chữ này, thì các cố gắng khác khó mà thành tựu. Tiên vàn ông học nhiều ngoại ngữ để mở rộng kiến thức. Ý tưởng đầu tiên là thử dịch một số tác phẩm Pháp ngữ cho dân ta đọc. Rồi ông xin mở trường, dạy cả tiếng Pháp và chữ quốc ngữ. Thiên hạ tấm tắc khen ngợi và biết ơn. Chúng ta sẽ đề cập tới chuyện ông ra mắt tờ báo đầu tiên tại Việt Nam, năm 1912, lấy tên là ‘Đông dương tạp chí’, hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ.

Ai ai cũng công nhận ông là một trong những người có công lớn nhất cho cuộc cách mạng chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ thời kỳ này có rất ít người chấp nhận sử dụng, trong khi đó chữ Hán, chữ Nôm đã tồn tại lâu đời và được tất cả mọi người chấp nhận nó như là một thứ chữ truyền thống. Bên cạnh việc vận động mọi người cùng tham gia cổ động và viết chữ Quốc ngữ, vấn đề ngữ pháp tiếng Việt cũng được ông đưa ra bàn luận, để đi đến thống nhất trong toàn quốc, về cách đặt câu, cách viết, chấm phẩy, cách nói, viết cho cả 3 miền và cần phải có một thể lệ chung .

Nguyễn Văn Vĩnh đã lần mò theo con đường Báo chí nhằm làm cho tiếng Việt ngày càng trở nên mạch lạc, khoa học, đủ sức sánh vai với bất kỳ một loại ngôn ngữ nào của các dân tộc trên thế giới. Nguyễn Văn Vĩnh đã lý giải với đồng bào mình về giá trị của chữ Quốc ngữ như sau: “Thường có kẻ bênh chữ Nho nói rằng: chữ Nho nghĩa lý sâu sắc, có thể làm ra văn bài hay. Ta tưởng cái sâu sắc bởi ở sự dùng chữ mà ra. Ví ta có được vài trăm truyện hay bằng truyện Kim Vân Kiều, thì xem tiếng ta có kém gì chữ Nho đâu”!

Nhờ nhận thức này, Nguyễn Văn Vĩnh lập tức nghĩ đến việc chuyển tải tác phẩm bất hủ Kim Vân Kiều của đại thi hào Nguyễn Du từ chữ Nôm ra chữ Quốc Ngữ . Rồi ông cũng là người đầu tiên dịch toàn bộ tập truyện Ngụ ngôn của Lafontaine từ tiếng Pháp ra tiếng Việt. Những việc làm này Nguyễn Văn Vĩnh thực hiện khi ở độ tuổi ngoài 20 ! Để làm gì? Ông muốn chứng minh với toàn xã hội và đồng bào mình, rằng tiếng mẹ đẻ của chúng ta, chữ Việt của chúng ta đầy đủ sức lực để chuyển tải những tinh hoa văn hóa trong ngôn ngữ của các nền văn hóa và các dân tộc khác.

Một trong những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trong việc phát triển báo chí tiếng Việt, là ở chỗ ông là một trong những người đi tiên phong trong việc viết phóng sự. Qua hai phóng sự Từ triều đình Huế trở về và Một tháng với những người đi tìm vàng (đang viết dở thì ông chết) được đăng trên tờ L’Annam nouveau. Tuy chưa hẳn đã là những hình mẫu chuẩn mực của phóng sự, nhưng rõ ràng đây là những bài đầu tiên mang đậm dấu ấn thể loại phóng sự, mà nhiều nhà báo sau này đã vận dụng và tiếp tục sáng tạo trong nền báo chí tiếng Việt.

Thêm vào đó, Nguyễn Văn Vĩnh cùng với các bạn đồng chí hướng, lần lượt làm đơn xin thành lập Hội Trí Tri (Hà Nội), Hội Dịch sách, Hội giúp đỡ người Việt đi sang Pháp du học, Đông Kinh nghĩa thục… Được dịp qua Pháp, tận mắt chứng kiến nền văn minh phương Tây, ông trở về nước với quyết tâm phát triển nền công nghiệp xuất bản, mà đầu tiên là phát hành báo chí, để qua đó truyền bá chữ Quốc ngữ, và bài bác các hủ tục phong kiến lạc hậu, nhằm canh tân đất nước, vì vậy ông đã xin thôi làm công chức và trở thành nhà báo tự do.

Ông tổ ngành báo chí:

Năm 1908, ông làm chủ tờ báo ‘Đại Nam Đồng văn nhật báo’, in bằng chữ Hán và quốc ngữ. Sau đổi tên là ‘Đăng cổ tùng báo’. Năm 1912, mới xuất hiện tờ ‘Đông dương tạp chí’ hoàn toàn bằng quốc ngữ.

Mãi tới năm 1917, dân mình mới thấy có tờ Nhật Báo tiên khởi, tên là ‘Trung Bắc tân văn’, do ông làm chủ bút. Năm 1919, tờ Đông dương tạp chí đổi tên là ‘Học báo’. Có sự cộng tác của hoạc giả Trần trọng Kim (sau này là thủ tướng.

Giáo sư Dương quảng Hàm có viết về Nguyễn văn Vĩnh thế này:

“--Về tư tưởng: Ông là người học rộng, biết nhiều, rành rõ tư tưởng học thuật của Âu Tây, nhưng cũng am hiểu tín ngưỡng phong tục của dân ta, muốn đem những quan niệm phương pháp mới nào hợp thời để truyền bá trong dân chúng, nhưng cũng chịu khó tìm tòi và biểu lộ cái dở, cái xấu cũng như cái hay, cái ý nghĩa của các chế độ, tục lệ xưa...

--Về văn từ: Văn ông bình thường giản dị, có tính cách phổ thông, tuy có châm chước theo cú pháp của văn tây mà vẫn giữ được đặc tính của văn ta. Ông lại chịu khó moi móc trong kho thành ngữ, tục ngữ của ta những từ ngữ có màu mẽ, để diễn đạt ý tưởng (cả những ý tưởng mới của Âu Tây), thành ra đọc văn dịch của ông tưởng chừng như đọc văn nguyên tác bằng tiếng Việt Nam vậy. Kể về văn dịch tiểu thuyết thì thực ông là người có biệt tài, ít kẻ sánh kịp”.

Để khen ông, ta có thể nói rằng Nguyễn Văn Vĩnh là người rất có công lớn với quốc văn. Nhưng không phải chỉ nhờ ở những sách dịch hay sáng tác, mà còn là vì ông đã đứng chủ trương những tờ tạp chí, ở vào buổi mà đối với văn chương, mọi người hãy còn bỡ ngỡ. Ông đã hội họp được những cây bút có tiếng, gây được phong trào yêu mến quốc văn, nhất là trong giới thanh niên trí thức đương thời . Nhà văn Vũ Bằng có viết rằng: "Thú thực cho đến bây giờ, tôi sợ nhiều người giỏi, nhưng chưa sợ như sợ cái tài viết báo của ông. Đem so sánh, tôi vẫn nghiêng về Nguyễn Văn Vĩnh nhiều hơn, và cho đến bây giờ tôi vẫn chưa thấy ai viết báo, viết văn,qua nhiều loại khác nhau một cách nghĩa lý và tài tình như ông Vĩnh. Ông viết đủ mọi thứ, dịch đủ các loại, viết tin, viết xã luận, khảo cứu, phóng sự”.

Ngàn đời ghi ơn:

Danh nhân Nguyễn văn Vĩnh nằm xuống, để lại một di sản to lớn giá trị vô song. Có vài người thiển cận chỉ trích ông thân Pháp hại người Việt, nhưng họ quên rằng ông thực sự rất yêu nước, chỉ muốn dựa vào văn minh Pháp để cải tiến đời sống dân tộc mình. Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam duy nhất cùng với bốn người Pháp đồng ký tên đòi trả tự do cho Phan Chu Trinh (lien quan trường ‘yêu nước’ Đông kinh ghĩa thục. Việc làm này cùng với việc ông đã dịch toàn bộ bài viết "Đầu Pháp chính phủ thư" của Phan Chu Trinh từ Hán văn ra Pháp văn. Bài này còn còn được gọi là "Thư trước tác hậu bổ" (Lettre de Phan Chu Trinh au gouverneur général en 1906), khiến Nguyễn Văn Vĩnh bị chính quyền thực dân gọi lên đe dọa gay gắt. Thực dân Pháp còn đã đóng cửa Đăng cổ tùng báo, đồng thời cấm Nguyễn Văn Vĩnh diễn thuyết, lưu hành và tàng trữ các ấn phẩm của Phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Năm 1932, ông đi dự họp Đại hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương tại Sài Gòn. Trong một buổi họp, ông đã thay mặt giới doanh nghiệp phản đối việc chuyển đồng tiền Đông Dương từ ngân bản vị sang kim bản vị, vì điều đó chỉ có lợi cho ngân hàng Pháp, nhưng lại có hại cho nền kinh tế Đông Dương.

Khi đang họp thì Nguyễn Văn Vĩnh nhận được trát của tòa án, đòi tịch biên toàn bộ gia sản, vì sau nhiều lần "mặc cả" giữa Chính quyền và Nguyễn Văn Vĩnh, nhà cầm quyền đòi Nguyễn Văn Vĩnh phải chấp nhận 3 điều kiện sau: Chấm dứt việc đả phá Triều đình Huế và quan Thượng thư Phạm Quỳnh. Đồng ý vào Huế làm quan. Dừng toàn bộ việc viết báo.

Năm 1935, Chính quyền đổi ba điều kiện nêu trên với Nguyễn Văn Vĩnh còn tệ hại hơn và bắt buộc phải chọn một điều kiện, đó là: Chấm dứt toàn bộ việc viết. Chấp nhận đi tù (dù chỉ một ngày). Sang Lào tìm vàng để trả nợ.

Tháng 3 năm 1936, Nguyễn Văn Vĩnh quyết định đi tìm vàng để trả nợ, ông sang Sê Pôn (Lào). Ngày 1 tháng 5 năm ấy (1936), người ta tìm thấy Nguyễn Văn Vĩnh một mình Bất tỉnh trên con thuyền độc mộc, một tay vẫn cầm bút, và tay kia cầm quyển sổ, trôi giữa dòng Sê Băng Hiêng (tên một nhánh của sông Sê Pôn). Ngưòi dân địa phương đưa con thuyền cập vào chân cầu Sê Pôn để chuyển lên trạm y tế Sê Pôn cứu chữa, nhưng đã quá muộn. Nhà cầm quyền loan báo: Nguyễn Văn Vĩnh chết ngày 2 tháng 5 năm 1936 vì sốt rét và kiết lỵ (lúc ấy ông mới 54 tuổi). Sau đó, thi hài Nguyễn Văn Vĩnh đã được đưa về Hà Nội để cử hành tang lễ trong 3 ngày, từ 6 đến 8 tháng 5 năm 1936. Tại buổi lễ tang, đông đảo giới báo chí của cả ba kỳ đã đến tiễn đưa ông dưới dòng chữ ‘Kính viếng Ông tổ của nghề báo’.

Thế là ông một đời lo cho nền văn học quốc ngữ, nhất là qua việc làm báo dân cao trình độ dân trí. Mà rõ ràng ông có lòng yêu nước, không khuất phục thực dân Pháp và chống đối những kẻ nịnh bợ kẻ chiếm đóng đất nước.

Ông làm gương khác thường trong công tác dịch thuật, sáng tác và viết báo, dẫn lối đi cho nền văn học quốc ngữ. Nếu đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh mà chỉ dừng lại ở việc ông là thủy tổ của làng báo tiếng Việt, là người có công phát triển chữ quốc ngữ, và là nhà dịch thuật xuất sắc thì chưa đầy đủ và thỏa đáng. Điều xứng đáng hơn cũng là đóng góp lớn nhất ở ông chính là về tư tưởng. Đó là một trong những nhà tư tưởng dân chủ đầu tiên của Việt Nam mang tính cách khai sáng. Ông cũng là người biết dùng văn học và văn hóa để thấm sâu vào lòng người, truyền bá những tư tưởng tiến bộ, vượt thời đại.

LM. Giuse Nguyễn Văn Thư

 

Pino Puglisi sinh vào ngày 15 tháng 9 năm 1937 tại thị trấn Palermo, con trai của một thợ đóng giày và mẹ là thợ may. Năm 1953 Pino Puglisi vào chủng viện của giáo phận Palermo và ngày 2/07/1960 được thụ phong linh mục. Cha đã được phúc tử đạo vì đã can đảm chống lại những hoạt động bất chính của mafia.
 
Nhà giáo dục không biết mệt mõi, trung gian hòa giải

Năm 1963, cha Pino Puglisi được bổ nhiệm làm cha tuyên úy tại viện mồ côi "Roosevelt" và cha xứ tại giáo xứ Đức Maria ở Valdesi. Từ những năm đầu của đời linh mục, cha đã quan tâm đặc biệt đến giới trẻ và các vấn đề xã hội ở những khu phố nghèo nhất trong thành phố. Cha học hỏi cẩn thận nội dung của Công đồng Vatican II và ngay lập tức truyền bá các tài liệu cho các tín hữu. Cha đặc biệt quan tâm đến việc đổi mới phụng vụ, vai trò của các giáo dân, các giá trị của đại kết và các giáo hội địa phương. Mong muốn của cha là Lời Chúa được thực hành một cách cụ thể trong cuộc sống thường ngày.

Ngày 1 tháng 10 năm 1970, cha được bổ nhiệm làm cha sở giáo xứ Godrano, một thị trấn nhỏ ở tỉnh Palermo, ở đây nổi tiếng có những mối hận thù đẫm máu giữa những người dân với nhau, những vụ thanh toán giữa các băng đảng. Cha ở lại đây cho đến ngày 31 tháng 7 năm 1978, thành công trong việc hòa giải giữa các gia đình với sức mạnh tha thứ.

Ngày 9 tháng 8 năm 1978, cha được bổ nhiệm làm hiệu trưởng tiểu chủng viện Palermo và sau đó là giám đốc Trung tâm giáo phận về ơn gọi. Năm 1983, cha lãnh trách nhiệm chính củaTrung tâm vùng về ơn gọi và là thành viên của Hội đồng quốc gia. Đối với các sinh viên và giới trẻ của các giáo phận, thì cha là người đã cống hiến những năm tháng dài đầy nhiệt huyết, một hành trình giáo dục gương mẫu từ quan điểm sư phạm và Kitô giáo. Cha là giáo sư môn toán và môn tôn giáo ở nhiều trường khác nhau. Cha dạy tại trường trung học cổ điển Vittorio Emanuele II ở Palermo từ năm 1978 đến 1993. Ở Palermo và Sicily, cha là một trong số các nhà lãnh đạo của nhiều phong trào như: Sự hiện diện của Tin Mừng, Công giáo Tiến hành, Fuci. Từ tháng 3 năm 1990, cha đã thi hành thừa tác vụ linh mục của mình tại "Nhà tiếp đón Đức Mẹ" của Đức Hồng y Ruffini vì lợi ích của phụ nữ trẻ và các bà mẹ gặp khó khăn.

Năm 1942 các trại tập trung ở Dachau và Auschwitz-Birkenau là nơi có nhiều tu sĩ người Ba Lan bị giết. Trong số đó có cha Aniceto Koplin, tu sĩ dòng Cappuccino.
 
Ơn gọi linh mục

Aniceto Koplin sinh ngày 30/07/1875 tại Debrzno, Ba Lan. Là người con thứ hai trong sáu người con của bà Berta Moldenhaum, một tín đồ Tin lành và Lorenzo Koplin người Công giáo. Aniceto được nhận lãnh một nền giáo dục tốt từ cha mẹ, có lòng đạo đức ngay từ nhỏ. Lớn lên cậu theo học môn nhân văn. Năm 1886, Aniceto bị nhiễm một bệnh nghiêm trọng, cậu thầm thề hứa nếu được chữa trị, sẽ trở thành một tu sĩ cappuccino. Và quả thật cậu đã được chữa lành và bảy năm sau, thực hiện điều đã khấn hứa Aniceto vào tu viện Sigolsheim, ở Alsace.

Năm 1900 Aniceto được thụ phong linh mục, cha thi hành sứ vụ tông đồ một cách nhiệt thành cho người dân Ba Lan. Cha có mối liên hệ mật thiết với Ba Lan nhưng vẫn gắn bó với nguồn gốc Đức của mình điều này được thể hiện trong các bài viết khoa học và các áng thơ. Lòng yêu nước của cha đã thay đổi một cách nền tảng, sau chiến tranh thế giới thứ nhất cha được gửi đến Varsavia. Tại đây cha trở thành linh mục giải tội cho Sứ thần Tòa thánh Achille Ratti, sau này là ĐTC Pio XI và Đức tổng giám mục Alessandro Kakowski, của Varsavia.

Cookies make it easier for us to provide you with our services. With the usage of our services you permit us to use cookies.
Ok