Offcanvas Section

You can publish whatever you want in the Offcanvas Section. It can be any module or particle.

By default, the available module positions are offcanvas-a and offcanvas-b but you can add as many module positions as you want from the Layout Manager.

You can also add the hidden-phone module class suffix to your modules so they do not appear in the Offcanvas Section when the site is loaded on a mobile device.

“Với sự ra đời của Hội Thánh Nhi, một hình thức sứ vụ mới cũng được hình thành. Sứ vụ này đặt ân sủng của bí tích rửa tội ở trung tâm, vì đây là nguồn mạch phát sinh nghĩa vụ truyền giáo của mọi Kitô hữu. Các em thiếu nhi cũng có quyền nhận sứ vụ này cũng như có quyền trao tặng sứ vụ này. Đây là lần đầu tiên trong Giáo hội, các thiếu nhi trở thành những người truyền giáo, đóng vai chính trong việc mục vụ, bằng sự đơn sơ khiêm nhường của các em. 175 năm từ khi ra đời, Hội Thánh Nhi thực hiện sứ vụ cứu vớt các trẻ em nhờ chính các trẻ em.” Đó là những lời mà sơ Roberta Tremarelli, Tổng thư ký của Hội nhi đồng truyền giáo, hậu thân của Hội Thánh Nhi, đã nói về Hội này nhân dịp kỷ niệm 175 năm thành lập.

Hội Thánh Nhi do Đức cha Charles de Forbin Janson thành lập. Tên của hội diễn tả ý muốn của Đức cha, là phó thác hội cho sự bảo vệ của Chúa Giêsu Hài đồng. Đức cha Charles de Forbin Janson sinh ra trong một gia đình Công giáo quý tộc, lớn lên trong bầu khí gia đình tràn đầy niềm tin vào Thiên Chúa và trung thành với Đức Giáo hoàng và Giáo hội. Ngay từ khi còn thơ bé, Janson đã quan tâm đến người nghèo khổ và các bạn bè xung quanh. Năm 18 tuổi, Janson gia nhập Học viên quân đội và sau đó tiếp tục việc học tại Paris. Khi Napoleon trở thành hoàng đế nước Pháp, Giáo hội gặp khó khăn với sự chống đối Giáo hội và bài giáo sĩ. Chính lúc này, Janson đã từ chối vị trí thành viên Hội đồng tư vấn quốc gia do chính hoàng đế Napoleon bổ nhiệm và quyết định trở thành linh mục để phục vụ Chúa và Giáo hội, đặc biệt là để bênh vực Đức Giáo hoàng, để tái truyền giảng đức tin cho nước Pháp, lúc này đang chống giáo sĩ, và truyền giảng Tin mừng cho thế giới.

Khi nói về cuộc đời của ĐHY József Mindszenty, vị tôi tớ Chúa, ĐHY Beniamino Stella, Bộ trưởng Bộ Giáo sĩ chia sẻ trong Thánh lễ do Ngài chủ tế vào ngày 02-5-2018, nhân dịp kỷ niệm  40 năm ngày mất của Đức Hồng y Hungary: "Đây chính là một gương mẫu cho đời sống linh mục và lòng nhiệt thành tông đồ, mà với tôi, tôi vẫn còn nợ Ngài rất nhiều". Với đầy cảm xúc, Đức Hồng Y Beniamino Stella nói: «Tôi vẫn còn nhớ mãi những năm đầu tiên mà tôi được đào tạo trở thành linh mục; một hình ảnh, một mẫu gương mà tôi noi theo đó chính là ĐHY Mindszenty. Đây là một gương mặt mà tôi mang trong tim kể từ khi tôi còn là một cậu bé. Tôi được giáo dục từ các linh mục chăm sóc giáo xứ. Các Ngài đã sống sứ vụ của mình trong bóng tối của những gì được gọi là “Bức màn sắt".  ĐHY Mindszenty là một trong đố đó. Đó là những năm tháng đầy hỗn loạn và khó khăn, được ghi dấu bởi cuộc đàn áp Giáo hội Công giáo. Các Ngài đối với chúng tôi luôn được nói đến vớ sự ngưỡng mộ, tôn trọng".

Trong hành trình theo Chúa, ĐHY Mindszenty luôn thực hành đức tin một cách can đảm và trung thành, ngay cả trong thời gian bách hại. Ngài luôn sẵn sàng cho việc mục vụ, cho đoàn dân Chúa, không chùn bước trước khó khăn. Ngài là một vị mục tử tốt lành khiêm nhường, sẵn sàng hiến dând cuộc sống cho Giáo Hội và cho đất nước. Một người không mệt mỏi bảo vệ Học thuyết Kitô giáo. Chính Ngài đã từng bị các hoàng đế bách hại và năm lần phải sống lưu vong.

Sáng ngày 9 tháng 5 vừa qua, ông Mario Agnes, cựu giám đốc của báo Osservatore Romano, đã từ trần tại căn hộ nhỏ, đơn sơ, thanh bần, của mình ở nội thành Vatican, sau thời gian dài chống lại căn bệnh đang từng ngày làm ông suy kiệt, hưởng thọ 86 tuổi.

Mario Agnes sinh ngày 6 tháng 12 năm 1931 tại Serino, một thành phố nhỏ thuộc tỉnh Avellino, trong một gia đình Công giáo có nguồn gốc Công giáo sâu xa chắc chắn mà ông luôn gắn bó. Trong những năm đầu đời ở tỉnh nhà, Agnes đã bắt đầu như một chiến binh của phong trào Công giáo tiến hành với công việc giáo dục các thanh thiếu niên trong giáo xứ. Sau đó Agnes tốt nghiệp khoa văn chương tại đại học Napoli, rồi làm giảng viên lịch sử Kitô giáo tại Cassino và phụ gỉang tại đại học La Sapiena ở Roma. Ông Agnes đã giữ nhiều chức vụ trong phong trào Công giáo tiến hành, đề cao việc tin mừng hóa và thăng tiến con người. Trong thời gian này, ông Agnes củng cố chắc chắn mối liên hệ với hàng giáo phẩm, đặc biệt với các Đức Giáo hoàng: trước tiên là với ĐGH Phaolô VI và rồi với ĐGH Gioan Phaolô II. Vào năm 1984, ĐGH Gioan Phaolô II đã đặt ông làm giám đốc báo Quan sát viên Roma và ông đã giữ nhiệm vụ này cho đến năm 2007.

Ngày 28/04/2018, tại thành phố Cracovia của Ba lan, Đức Hồng y Angelo Amato, tổng trưởng Bộ phong thánh, đã chủ sự Thánh lễ phong chân phước cho bà Hanna Chrzanowska. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Giáo hội một nữ điều dưỡng giáo dân được tuyên phong chân phước.

Giống như thánh Phanxicô Assisi, Hanna Helen Chrzanowski xuất thân từ một gia đình quý tộc danh giá, nhưng cô đã quyết định dành cuộc đời của mình cho các linh hồn đang đau khổ. Thân phụ của Hanna, ông Ignacy Chrzanowski, là một giáo sư văn chương Ba lan tại đại học Jagiellonian ở thành phố Cracovia; tuy là một tín hữu Công giáo nhưng ông không sốt sắng thực hành đạo. Thân mẫu của Hanna, bà Wanda Szlenker, là một tín hữu Tin lành. Cả hai ông bà thân sinh của Hanna đều thuộc những gia đình có truyền thống yêu nước và họ nổi tiếng về các hoạt động bác ái.

Khi còn trẻ, Hanna cũng xa lìa đức tin Công giáo nhưng sau thế chiến thứ hai, cô đã có một kinh nghiệm hoán cải sâu sắc. Vào khoảng cuối thời gian trung học, Hanna đã tham dự khóa học kéo dài 2 tháng do Hội Chữ thập đỏ Hoa kỳ tổ chức để chăm sóc cho các người lính trong thời chiến tranh Bôn-sê-vích tại Ba lan. Năm 1920, Hanna đã quyết định trở thành một điều dưỡng khi biết tại Vác-sa-va vừa mở một trường điều dưỡng. Năm 1924, sau khi tốt nghiệp, Hanna nhận được học bổng học nâng cao tại Pháp và Bỉ.

Tổ chức Kripa được cha Joe Pereira khai sinh vào năm 1981 tại Bandra, một huyện của Mumbai. Kripa trong tiếng Phạn có nghĩa là "ân sủng"; đây là một tổ chức phi chính phủ của Mumbai chuyên giúp phục hồi bệnh nhân nhiễm HIV và những người nghiện ma tuý. Ngày nay tổ chức Kripa là một tổ chức phi chính phủ lớn nhất ở Ấn Độ với 69 cơ sở, ở 12 bang của Ấn Độ. Tổ chức cộng tác với các hiệp hội rải rác khác ở châu Âu, Canada và Hoa Kỳ.

Vào năm 1981, tổ chức khởi đầu khiêm tốn trong một nhà thờ ở Bandra, với ba bệnh nhân nội trú, một linh mục, một bác sĩ và một người nghiện rượu. Trung tâm được sự hổ trợ từ cộng đồng, nhận được sự tài trợ thông qua các khoản trợ cấp của chính phủ Ấn Độ, cũng như các cơ quan tài trợ quốc gia và quốc tế.

Hơn một phần tư thế kỷ phục vụ, Tổ chức Kripa đã phát triển với một mô hình không phân biệt đối xử. Ngày nay, Kripa đang đi đầu trong việc hỗ trợ đào tạo về nghiện may túy, phục hồi chức năng và HIV, cung cấp một loạt các dịch vụ cho cộng đồng, tạo điều kiện cho các cơ quan thực thi pháp luật, các cơ sở giáo dục và các cơ sở giáo dục khác tham gia vào phục vụ Khiêm tốn.

Tây ban nha là quốc gia có con số ấn tượng về các thừa sai đang hoạt động truyền giáo, hoạt động trong nhiều lãnh vực, môi trường để rao giảng Tin mừng trên khắp thế giới. Trong số 13 ngàn thừa sai người Tây ban nha, sơ Elvira Escudero là nhà truyền giáo cao tuổi nhất trong. Ngày 19 tháng 2 vừa qua (năm 2018), sơ Elvira tròn 101 tuổi. Cuộc đời của sơ Elvira là một cuộc sống nhập thể. 3 năm sau khi thế chiến thứ hai kết thúc, năm 1948, khi hòa bình bắt đầu được tái lập, sơ Elvira khi ấy 31 tuổi, đã rời quê hương ở xứ Basqua, Tây ban nha, đến sống và hoạt động tại Nhật bản, quốc gia đã bị tàn phá bởi chiến tranh và hủy diệt vì hai quả bom nguyên tử. Sơ Elvira đã truyền giáo tại Nhật bản suốt 7 thập kỷ.

Năm 1943, khi được 26 tuổi, Elvira Escudero gia nhập dòng các nữ tu truyền giáo lòng thương xót ở Berriz do chân phước Margarita López de Maturana thành lập. Tháng 11 năm nay, sơ Elvira sẽ mừng kỷ niệm 75 năm sống đời thánh hiến. Sơ Elvira đã chia sẻ niềm đam mê sứ vụ của Chân phước Margarita López de Maturana, người đã biến một tu viện của đan viện lòng thương xót thành một cơ sở truyền giáo. Khi đến Nhật bản sau chiến tranh, giữa những hoang tàn đổ nát, hậu quả của chiến tranh, sơ Elvira đã dốc sức lực và tinh thần, dấn thân vào hoạt động tông đồ tại đây. Sơ Elvira chia sẻ về công việc của mình trong 70 năm ở Nhật: “Công việc của tôi là dạy học trong các trường học do dòng của chúng tôi điều hành tại Nhật và dạy giáo lý. Tôi rất hạnh phúc khi cộng tác với các chị em của tôi. Khi tuổi đã cao, sức đã yếu và không hoạt động trong ngành giáo dục nữa, tôi đã đến thăm các tù nhân trong tù và tôi cũng hạnh phúc, nhất là khi một tù nhân Trung Quốc có thể lãnh nhận bí tích rửa tội.”

Ngày 19 tháng 4 vừa qua, các tổ chức đối tác cũng như chính quyền các cấp của Tajkistan đã cùng với chi nhánh Caritas – cơ quan bác ái của Đức – tại Tajkistan tổ chức lễ kỷ niệm 10 năm hoạt động của cơ quan này tại Tajkistan.  Cơ quan bác ái Đức cùng với các tổ chức phi chính phủ của địa phương đã  cộng tác với Bộ y tế của Tajkistan đồng hành, giúp đỡ cho những người khuyết tật, người già neo đơn và cả các nạn nhân của thiên tai và chiến tranh, qua các chương trình và hoạt động nhắm trợ giúp những người dễ bị tổn thương nhất.

Cô bé Lola 9 tuổi, là một trong những người được giúp đỡ bởi trung tâm phục hồi dành cho người khuyết tật của cơ quan bác ái Đức ở Tajkistan. Với sự trợ giúp của chương trình “Phục hồi dựa trên cộng đoàn” của cơ quan bác ái và các hiệp hội đối tác, bà Ozodhakon, mẹ của bé Lola, đã học cách chăm sóc con gái của mình và bảo đảm cho cháu một cuộc sống hạnh phúc. Chương trình này đào tạo các phụ huynh và những người chăm sóc các trẻ em và nhắm dẹp tan sự kỳ thị đối với người khuyết tật. Bà Ozodhakon chia sẻ: “Caritas, đối với tôi, có nghĩa là sự bình đẳng. Con gái của tôi có thể tham gia vào cuộc sống mỗi ngày. Cháu trở thành một thành viên như mọi người khác trong xã hội.”

Một cuộc đời truyền giáo, phục vụ những người phong cùi ở Bangladesh. Đó là câu chuyện của sơ Roberta Pignone, bác sĩ người Ý thuộc Dòng Truyền giáo Hải ngoại  của Học viện Giáo hoàng. Sơ chia sẻ kinh nghiệm của mình trong vai trò là giám đốc bệnh viện Damien ở Khulna.

Theo sơ Roberta Pignone, từ năm 2012 ở Khulna, các trường hợp nhiễm bệnh Hansen đã tăng gấp đôi. Trong năm 2017, có 35 trường hợp bệnh phong và 400 bệnh lao đã được điều trị tại bệnh viện Damien.

Vào năm 1986 các sơ đã mở trung tâm này với mục đích điều trị và ngăn ngừa các trường hợp bệnh phong và vào năm 2012 là bệnh lao. Sơ Roberta Pignone kể: "Khi còn bé tôi chưa bao giờ tưởng tượng mình trở thành một nữ tu. Tôi cảm thấy tôi muốn làm điều gì đó cho người khác, và đó là lý do tại sao tôi chọn học Y khoa. Nhưng trở thành một nữ tu tôi không nghĩ đến”.

Josephine Corraya là một phụ nữ người Công Giáo. Cuộc sống của bà là nguồn cảm hứng cho hàng ngàn người Công giáo Bangladesh.

Josephine Corraya kết hôn ở tuổi 15. Chồng bà là một nông dân nghèo đã qua đời năm 1983 khi người con út của họ lên bảy tuổi. Bà trở thành một góa phụ khi còn trẻ, sống trong cảnh nghèo khổ, nhưng bà đã nỗ lực, cố gắng đảm bảo một nền giáo dục cho tất cả các con về  mặt tri thức, tinh thần và đạo đức. Bà khuyến khích con cái dâng hiến cuộc đời để phục vụ Đức Kitô. Trong số các con, có 6 người con dâng hiến cuộc đời cho Chúa, ba linh mục và ba nữ tu. Con trai cả của bà, cha Theotonius Rebeiro là một giáo sư luật của Đại Chủng viện Chúa Thánh Thần và Chưởng ấn của Tổng giáo phận Dhaka, một người con trai khác là một linh mục giáo xứ tại Chittagong và con trai út, cha Augustine Bulbul Rebeiro là Giám đốc trung tâm truyền thông của các giám mục.

Năm ngoái, trong cuộc đối thoại với phóng viên báo Asia News, bà đã tiết lộ rằng ước muốn lớn nhất của bà khi còn nhỏ là trở thành một nữ tu và bà nói: "Các con tôi đã hoàn thành ước mơ của tôi”.

Martin Pistouris, người Nam Phi, 43 tuổi, đã chịu một hội chứng đóng băng trong suốt 12 năm. Phần lớn thời gian anh có ý thức, nhưng không có khả năng giao tiếp. Anh kể lại một chứng từ đau xót mà anh đã trải qua trong suốt những năm đau khổ này.

Martin Pistouris, người Nam Phi, 43 tuổi, đã chịu một hội chứng đóng băng trong suốt 12 năm. Phần lớn thời gian anh có ý thức, nhưng không có khả năng giao tiếp. Anh kể lại một chứng từ đau xót mà anh đã trải qua trong suốt những năm đau khổ này: được nhìn thấy, được nghe, được yêu.

Lúc 12 tuổi Martin bắt đầu thường xuyên than đau họng và chứng mệt mỏi mãn tính. Cha anh là ông Rodney và mẹ anh là bà Joan đưa anh đi tới nhiều bác sĩ, nhưng các bác sĩ không chuẩn đoán được bệnh. Sau đó anh không thể cử động và nói chuyện, không thể nhận ra những người xung quanh. Anh rơi vào hôn mê. Theo cha mẹ anh thì anh có thể chết bởi vì não không còn hoạt động nữa. Anh ở trong tình trạng đời sống thực vật, không còn hy vọng nào.

Cookies make it easier for us to provide you with our services. With the usage of our services you permit us to use cookies.
Ok