Offcanvas Section

You can publish whatever you want in the Offcanvas Section. It can be any module or particle.

By default, the available module positions are offcanvas-a and offcanvas-b but you can add as many module positions as you want from the Layout Manager.

You can also add the hidden-phone module class suffix to your modules so they do not appear in the Offcanvas Section when the site is loaded on a mobile device.

Cha Tonino Pasolini nói: "Đối với ơn gọi của tôi không có thừa tác vụ nào tốt hơn hoạt động truyền thông xã hội". Nhà truyền giáo đã chia sẻ như thế khi đến văn phòng biên tập để báo cáo về hành trình loan báo Tin Mừng của cha với Đài phát thanh Pacis mà cha đã thành lập cách đây 14 năm. Đây là một trong những chương trình được người dân ủng hộ và nghe nhiều nhất ở Uganda.
 
Cha Tonino sinh năm 1939, có niềm hăng say và đam mê trong hoạt động tông đồ. Cha chia sẻ hoạt động truyền giáo của cha trong những năm tháng đầu tiên ở châu Phi như sau: Năm 1966 cha đến vùng đất này và vào năm 2006 cha tham gia vào hoạt động truyền thông. Sở dĩ cha say mê tham gia hoạt động này vì theo cha hoạt động truyền thông có một tầm ảnh hưởng rất lớn trong cánh đồng truyền giáo.

Ở giáo phận Arua, nơi nhà truyền giáo đã hiện diện trong nhiều thập niên, chỉ trong hơn hai năm, có một triệu hai trăm ngàn người tị nạn đến từ Nam Sudan. Sự xâm lược hòa bình này, ở nơi chỉ có hơn một triệu 660 nghìn dân cư đã tạo ra sự thiếu cân bằng. Nhưng người dân địa phương đã đón tiếp những người nước ngoài này một cách cởi mở bởi vì họ nhận thức rằng ai cũng có thể trở thành người tị nạn và cần được đón tiếp từ những người khác. Những người tị nạn và những người Bắc Uganda nói cùng một ngôn ngữ và các thổ ngữ. Các đường biên giới được vẽ ở châu Âu, trên bản đồ không tính đến dân số ở đây. Thực tế này cổ võ sự hòa nhập tự nhiên, tuy nhiên những con số vẫn là một vấn đề.

Trong những ngày trung tuần tháng 7 vừa qua lực lượng cảnh sát Tây Ban Nha đã tìm thấy 2 bức thư viết tay của thánh nữ Têrêxa thành Avilla

Hai bức thư nói trên đã do thánh nữ viết hồi tháng 8 năm 1578 gửi thầy Geronimo Gracián, là một cộng sự viên và người bạn trẻ của thánh nữ trong công trình cải cách dòng Cát Minh. Hai thư này phát xuất từ đan viện cổ của các nữ tu Cát Minh nhặt phép Chúa Giêsu và Thánh Giuse ở Medina del Rioseco. Chúng là chứng tá lịch sử của cuộc đấu tranh của thánh nữ trong việc canh cải các cộng đoàn Cát Minh Tây Ban Nha. Thời đó các đan sĩ Cát Minh nhặt phép và không nhặt phép chia thành hai phe, chống đối thù nghịch và tranh giành quyền bính với nhau. Hai bức thư đã được viết trong bối cảnh khó khăn khi thầy Geronimo Gracían và thánh Gioan Thánh Giá bị giáo quyền bách hại, vì cộng tác với thánh nữ trong nỗ lực canh cải dòng Cát Minh Tây Ban Nha.

Têrêxa thành Avila lúc đó 63 tuổi, trong khi thầy Gracián là một đan sĩ trẻ thông minh và đẹp trai. Cả hai đã phải vác thập giá vì các ghen tỵ và lời ra tiếng vào của các tu sĩ khác. Hai bức thư đã được cảnh sát Seprona tỉnh Valladolid tìm thấy giữa 20 tác phẩm nghệ thuật tôn giáo quý hiếm khác trong một vụ bán đấu giá tại thủ đô Madrid. Trong số các tác phẩm cũng có một bức tranh vẽ thánh nữ Maria Madalena đang từ bỏ các đồ trang sức của mình, bị tưởng nhầm là ảnh hoàng hậu Isabella Hungari. Chiến dịch truy lùng các tác phẩm nghệ thuật bị đánh cắp đã bắt đầu hồi tháng 3 vừa qua và đã thành công nhờ sự cộng tác của nhiều tổ chức trong vùng Valladolid, bảo tàng viện Fabio Nelli và văn phòng gia tài nghệ thuật của tòa tổng giám mục thành phố (Os. Romano 16-7-2018)

Linh Tiến Khải - Vatican

 


 

Patrick người Bangladesh và Franca người Italia đã kết hôn với nhau được 5 năm. Mặc dù có nhiều khác biệt về văn hóa, tuổi tác nhưng họ thực sự có một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Cả hai gia nhập Gia đình Giáo dân Thừa sai Xaverian, đây là một nhóm người tập luyện sống theo đoàn sủng của thánh San Guido Maria Conforti, đó là: "Làm cho thế giới trở thành một gia đình trong Chúa Kitô" ngay trong cuộc sống hàng ngày
 
Với linh đạo trên để đáp ứng nhu cầu hiện nay của một số Giáo hội địa phương những người giáo dân nhiệt thành này quyết định dành một phần thời gian cuộc sống cho một kinh nghiệm của hành trình truyền giáo. Chính họ tự tìm kiếm một phương pháp và kế họach cũng như tự lo về chi phí cho kế hoạch truyền giáo này. Hai vợ chồng Franca và Patrick là một trong số những giáo dân truyền giáo với hình thức trên. Họ đã quyết định dành một năm làm việc và cùng nhau đi đến Bangladesh để chia sẻ một thời gian với người dân tại đây.

Patrick và Franca chia sẻ những cảm nhận đầu tiên của cuộc hành trình: “Khí hậu ở đây nóng bức nhưng không có quạt máy. Chúng tôi chỉ có hai quạt nhỏ hoạt động bằng năng lượng mặt trời. Vào buổi tối trước khi ngủ, côn trùng như nhện và gián tới chào chúng tôi, có rất nhiều muỗi, chúng tôi phải sử dụng lưới chống muỗi”.

Cha Brambilla đã hiện diện tại Bangladesh từ năm 2007. Cha làm việc tại các làng nơi sinh sống của các bộ tộc ở miền bắc đất nước và hiện nay cha quản lý bệnh viện Giáo phận ở Dinajpur, bệnh viện thánh Vinh Sơn. Cha nói: “Tôi ở đây vì Thiên Chúa muốn như thế, Ngài đã chọn tôi. Tôi không làm điều gì khác ngoài tiếng xin vâng mỗi ngày”.

Khi nói về đất nước Bangladesh cha Michele Brambilla, bề trên miền của Hội Giáo hoàng truyền giáo hải ngoại nhận định: “Tại đất nước này người trẻ là “một tiềm năng to lớn” của đất nước; các công nhân là nguồn động lực thúc đẩy đất nước. Hai thành phần này là một “thánh thức lớn nhất cho Giáo hội địa phương”. Chính vì thế đối các nhà truyền giáo thì giới trẻ và giới công nhân là mối quan tâm hàng đầu. Đối với hai thành phần này theo cha Michele Brambilla thì các vị truyền giáo trong việc dấn thân phục vụ họ thì một mặt phải có sự đồng hành thực tế, và ở khía cạnh khác phải tuân theo các nguyên tắc đòi hỏi của Tin Mừng.

Cha giải thích: "Ở đây công việc là mối quan tâm chính của mỗi gia đình. Đó là lý do tại trung tâm Girani ở vùng ngoại ô Dhaka luôn đặt vấn đề việc làm lên hàng đầu. Thủ đô Girani đã trở thành trung tâm công nghiệp lớn nhất trong cả nước. Trong nhà tiếp đón được tổ chức dành cho các công nhân trẻ, chủ yếu là người Công giáo đến từ các bộ lạc, họ là những người mà chúng tôi phải quan tâm đến đời sống tâm linh cho họ; ví dụ như Thánh Lễ được cử hành mỗi ngày".

Từ một giáo viên toán học, qua một lần giúp đỡ những người tị nạn tại sân bay San Francisco cách đây 30 năm, sơ Marilyn Lacey dòng Mercy đã gắn bó cuộc đời mình với những công tác xã hội để giúp đỡ những người tị nạn và thăng tiến phụ nữ nghèo ở các nước châu Phi.

“Tin khẩn cấp! Những người tị nạn từ Đông nam á đang đến sân bay San Francisco. Cần những tình nguyện viên trợ giúp họ tại khu vực sân bay quốc tế.” Những lời kêu gọi này xuất hiện trên bảng thông tin của tu viện các sơ dòng Mercy (Thương xót) vào một ngày của năm 1980, khi hơn 700 người tị nạn từ Việt nam, Lào và Campuchia, được gọi là các “thuyền nhân”, đang được đưa đến sân bay của thành phố San Francisco, bắc California.
Sơ Marilyn Lacey, dòng Mercy, khi ấy đang là giáo viên dạy môn toán tại trường trung học ở Los Angeles, nhưng đang làm công việc điều hành tại nhà mẹ của dòng ở gần San Francisco, đã nhìn thấy tấm giấy có lời kêu gọi này, được đính trên bảng thông tin của nhà dòng, giữa những lời xin cầu nguyện, thời gian đọc kinh và các thông báo khác. Tấm giấy đó đã thu hút đặc biệt sự chú ý của sơ Marilyn; sơ đã lôi 2 người bạn của mình cùng đi đến sân bay ngay trưa hôm đó để giúp những người tị nạn mới đến.
Công việc đầu tiên của sơ Marilyn là đồng hành với các gia đình không thể nói tiếng Anh và đang lo lắng vì phải để lại đồ đạc của họ ở chỗ kiểm soát an ninh, rồi kế đến là tiếp đón tạm thời một số gia đình tại tu viện nếu họ bị trễ chuyến bay hoặc có vấn đề ngăn trở chuyến bay của họ. Kinh nghiệm này thật khác, không giống với bất cứ thứ việc gì mà sơ đã trải qua trước đó và chính điều này đã thay đổi sơ.
Năm sau đó, sơ Marilyn đã tình nguyện dạy Anh văn trong một trại tị nạn tại Thái lan và khi trở về lại Hoa kỳ, sơ đi học và có bằng cử nhân về hoạt động xã hội. Từ đó sơ đã làm việc cho Cơ quan bác ái Công giáo của giáo phận San Jose ở California và từ năm 1983 đến năm 2005, sơ là giám đốc hoạt động cứu trợ của Cơ quan này. Trong thời gian làm việc tại Cơ quan bác ái Công giáo, sơ Marilyn đã tham dự một hội nghị và nghe các Giám mục Nam Sudan miêu tả tình cảnh của một triệu người dân phải tản cư vì cuộc nội chiến tại một miền, nơi không có trường học, bệnh viện hay trạm xá nào. Sau buổi hội thảo, Đức cha Paride Taban, hiện nay là Giám mục hưu trí của Torit, Nam Sudan, đã mời sơ Marilyn thăm Nam Sudan và để sơ tận mắt chứng kiến thảm trạng nơi đó.

Gần đây nghe nói có những Dòng tu được lập cho người đã kết hôn. Đó là tin thực hay tin bịa?

Trước khi trả lời câu hỏi về tính cách xác thực của tin đồn Dòng tu lập cho người đã kết bạn, thiết tưởng nên nhớ lại câu ví ở Việt Nam: “thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Nếu tôi không lầm thì câu ví đó muốn nói rằng tu ở gia đình còn khó hơn là tu ở chùa. Hậu nhiên, nếu muốn lập công đức thì tu ở nhà đủ rồi, cần gì phải tính chuyện vào chùa mới tu được. Lắm khi nghĩ tới cảnh đêm đêm nghe bọn tí nhau khóc oe oe, tôi cũng thấy rằng quả là tu ở nhà khó hơn tu ở chùa thật! Tuy nhiên, xin tạm gác chuyện công phúc ra một bên, để bàn về chuyện người có gia đình mà xin đi tu. Vấn đề cần được xét dưới nhiều khía cạnh.

Do lòng thành kính và yêu mến, con cái của Đức Maria qua các thời đại đã tặng cho Mẹ rất nhiều danh hiệu như chúng ta thấy liệt kê trong Kinh Cầu Đức Bà. Mỗi danh hiệu mô tả một nhân đức của Mẹ như “Đồng trinh trên hết các kẻ đồng trinh”; hay một tước hiệu như “Mẹ Chúa Trời”; hoặc nói lên lòng yêu thương của người mẹ như “Yên ủi kẻ âu lo”.

Ngoài ra Đức Maria còn có nhiều danh hiệu khác, được gọi theo tên của nơi Mẹ hiện ra. Nổi tiếng nhất chúng ta có Đức Mẹ Lộ Đức ở Pháp, Đức Mẹ Fatima ở Bồ, Đức Mẹ Guadalupe ở Mễ, Đức Mẹ Medjugorje ở Bosnia, và.. . Đức Mẹ La Vang của Việt Nam v v.

Ở mỗi nơi hiện ra dù được Vatican công nhận hay không, thường thường Đức Maria gởi cho con cái một sứ điệp tinh thần như xác nhận tính không mắc tội tổ tông của Mẹ ở Lộ Đức, sứ điệp về chuỗi mân côi và sám hối ở Fatima, sứ điệp cầu nguyện, ăn chay và sám hối ở Medjurgoje v. v. Nhưng ở La Vang thì khác. Đức Maria tới La Vang không mang theo một sứ điệp nào. Mẹ chỉ mang tình thương.

Cha Don Carlo Carlevaris là một trong những linh mục đầu tiên và năng động nhất trong số những linh mục thợ của Giáo hội Ý, người có nhiều ảnh hưởng trên xã hội. Ngày nay tên của cha gợi lên những giai đoạn với dấu ấn trong ký ức của Giáo hội Torino về lịch sử mối quan hệ công đoàn ở Torino.

Don Carlo sinh ngày 12 tháng 4 năm 1926 tại Cardé, giáo phận Saluzzo. Được đào tạo tại chủng viện "Tommasini". Vào ngày 29 tháng 6 năm 1950 trở thành linh mục thuộc giáo phận Torino.

Đây là giai đoạn trong xã hội có nhiều xáo trộn do việc người nhập cư đến thành phố, vấn đề đời sống của những công nhân làm việc trong các nhà máy thật khó khăn. Cha Don Carlo trong sứ vụ là cha phó nhận thấy tình hình người dân ở đây nhất là đời sống cơ cực của giới công nhân cha không đành lòng. Cha quan sát và nhận ra rằng mối quan hệ giữa các linh mục và công nhân không thể bị giới hạn trong "sự trợ giúp tinh thần" nơi nhà máy mà phải trở thành sự chia sẻ toàn diện cuộc sống và các vấn đề trong thế giới lao động.

Chính vì thế với kinh nghiệm về hoạt động mục vụ cho giới lao động mà cha đã hấp thụ được trước đó ở Pháp của các linh mục thợ được gọi là "Các cha tuyên úy cho giới công nhân", cha quyết định trở thành linh mục thợ trong nhà máy, quyết định chia sẻ hoàn toàn điều kiện làm việc của giới lao động. Trong suốt thời gian thi hành sứ vụ cha luôn kết hợp giữa vấn đề điều kiện làm việc của giới công nhân trong một xã hội thay đổi nhanh chóng và tầm nhìn về chiều hướng mục vụ công việc cha đang thi hành. Do đó cha dấn thân trực tiếp trong công đoàn.

Giáo phận Roma đã công bố sắc lệnh loan báo mở án phong chân phước cho chị Chiara Corbella Petrillo, một phụ nữ trẻ phi thường qua đời năm 2012, sau khi hoãn điều trị ung thư cho đến sau khi sinh con.

Vị Tôi tớ Chúa Chiara Corbella sinh năm 1984 tại Roma, trong một gia đình Kitô giáo. Từ khi còn nhỏ, Chiara đã được cha mẹ dạy dỗ sống đức tin. Khi lên 5 tuổi, cô bé đã tham gia vào cộng đoàn Canh tân trong Thánh linh. Chiara đã bắt đầu hành trình đức tin như thế và ngày càng lớn lên trong đức tin. Cô được dạy cầu nguyện với Chúa Giêsu cách đơn giản như trò chuyện với người bạn. Chiara cũng học cách chia sẻ niềm tin với các bạn bè cùng trang lứa.

Năm 18 tuổi, trong một cuộc hành hương, Chiara đã gặp và quen với Enrico và sau đó vài tháng họ đính hôn với nhau. Sau nhiều khó khăn thử thách, Chiara kết hôn với Enrico Petrillo ngày 21/09/2008. Chiara đã trải qua những khó khăn trong đời sống gia đình khi 2 đứa con đầu lòng qua đời không lâu sau khi chào đời.

Trong lần thứ 3 mang thai, Chiara bị ung thư. Bất kỳ điều trị nào cũng có hậu quả chết người đối với thai nhi. Chiara đã quyết định hoãn điều trị để cho đứa con chị đang mang thai được chào đời khỏe mạnh. Chỉ sau khi con ra đời, chị mới bắt đầu tiếp nhận điều trị bệnh, nhưng đã quá trễ! Chị qua đời ngày 13/06/2012, khi mới 28 tuổi. Sự hy sinh của chị đã khiến cho nước Ý cũng như thế giới xúc động.

Mỗi ơn gọi là một câu chuyện khác nhau, nhưng ơn gọi của sơ Rita Clare Yoches lại khá đặc biệt. Trước khi vào dòng, sơ Rita Clare là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp và đã 4 lần vô địch quốc gia. Tuy thế, đó là câu chuyện của bóng đá Mỹ. Ngày nay, thứ bóng đá duy nhất mà sơ Rita chơi đó là trò chơi chạm hai tay hàng năm mà sơ tổ chức với 38 nữ tu sơ cùng chung sống tại thành phố Toronto, bang Ohio, Hoa kỳ. Ngày 30 tháng 6 vừa qua (2018), sơ được tuyên khấn trọn đời trong dòng nữ Phan sinh Đức Mẹ sầu bi

Dù sinh ra trong một gia đình Công giáo và cũng theo học tại các trường Công giáo, cô gái Yoches không bao giờ nghĩ đến việc trở thành một nữ tu. Gia đình của cô tham dự Thánh lễ mỗi Chúa nhật, nhưng đó là chuyện đời sống đức tin. Có tài về thể thao, Yoches được nhận học bổng toàn phần về bóng rổ tại trường đại học Mercy ở Detroit, nơi cô chơi bóng 4 năm.

Sau khi tốt nghiệp đại học, Yoches bắt đầu sự nghiệp bóng đá vào năm 2003, sau một buổi thử việc thành công với đội Detroit Demolition, một đội bóng nữ chuyên nghiệp khi đó, hiện nay không còn nữa. Cô rời đội vào năm 2006, và vào tháng 3 năm 2007, cô gái mà trước đây tự mô tả mình là cô gái của các buổi party, đã cảm nghiệm được tiếng gọi bước vào đời sống tu trì. Yoches đã kết thúc mối quan hệ với bạn trai của mình, và gia nhập dòng Phan sinh ngay sau đó.

Cookies make it easier for us to provide you with our services. With the usage of our services you permit us to use cookies.
Ok