Offcanvas Section

You can publish whatever you want in the Offcanvas Section. It can be any module or particle.

By default, the available module positions are offcanvas-a and offcanvas-b but you can add as many module positions as you want from the Layout Manager.

You can also add the hidden-phone module class suffix to your modules so they do not appear in the Offcanvas Section when the site is loaded on a mobile device.

Ông Carlo Castagna, một cư dân của Erba, ở Ý trở nên nổi tiếng từ năm 2006, ông được mọi người biết đến với lòng ngưỡng mộ không phải vì ông là một thiên tài nhưng vì là người đã sống niềm tin của mình một cách anh hùng, qua việc can đảm tha thứ cho những người đã sát hại chính người thân của ông. Từ nơi ông người ta thấy được một người bình thường như  mọi người nhưng lại có một điều khác biệt mọi người, một người đã sống kinh nghiệm của sự tha thứ.

Carlo Castagna không muốn nói nhiều về những gì ông đã thực hiện, ông đã 75 tuổi, cảm thấy mệt mỏi, thực tâm ông bị cám dỗ từ chối lời mời ông nói lên những gì ông đã trải nghiệm về sự tha thứ. Nhưng sau đó, vì vâng lời Giáo hội mà ông cảm nhận như người mẹ và trên hết tất cả sự kiên định của mình, ông bắt đầu câu chuyện của tha thứ.

Vụ thảm sát xảy ra vào tối ngày 11 tháng 12 năm 2006, do chính những người hàng xóm thực hiện. Đó là vợ chồng Rosa và Olindo. Họ đã ra tay sát hại vợ, con gái và cháu trai của ông chỉ vì những lý do nhỏ nhặt thường xảy ra trong các khu phố. Ông Carlo Castagna cũng như những người hàng xóm khác, trong những ngày này cùng với gia đình đang trang trí căn phòng cho dịp lễ Giáng Sinh và đón năm mới. Vào ngày kinh hoàng đó ông đang thiu thiu ngủ trước ti vi chờ vợ về. Ớ dưới gốc cây thông Noel quà đã được chuẩn bị sẵn sàng cho mọi người đặc biệt cho cháu trai bé nhỏ. Nhưng rồi cái ác đã đến, sự lạnh lùng của nó đã đến trong ngôi nhà ấm cúng tràn đầy tình yêu của ông. Địa ngục không cần một lý do nào mà người ta có thể đoán trước, phá vỡ bầu khí thanh bình. Bất chợt ông cảm thấy mưa nhiều và lạnh, rồi tiếng còi xe của cảnh sát, những tiếng la lớn, đám đông. Tất cả hiện lên trước mắt ông hình ảnh kinh hoàng của những nạn nhân của vụ giết người mà họ chính là vợ, con và cháu của ông.

Enrico Meregalli sinh năm 1948, là một thừa sai giáo dân của Hội Giáo hoàng truyền giáo, thường được gọi là Hội Pime. Từ hơn 40 năm nay, thầy Enrico sống tại Eluru, một thành phố thuộc bang Andhra Pradesh, Ấn độ. Tất cả người dân ở Eluru đều biết Enrico bởi tay nghề điêu luyện của Enrico, bởi việc dạy học cho rất nhiều thanh thiếu niên tại trường kỹ thuật mà từ rất lâu nay thầy là linh hồn của nó, nhưng trên hết là vì trái tim vĩ đại của người đã tìm thấy gia tài được chôn dấu tại góc khuất xa xôi của Ấn độ.

500 thanh thiếu niên từ 15 đến 18 tuổi ở ngôi trường nổi tiếng được Hội truyền giáo Pime thành lập cạnh 3 cơ sở giáo dục khác của Eluru. Tại đây các học sinh học để trở thành các thợ máy, thợ sửa xe hoặc thợ điện. 10 giáo viên, 10 nhân viên là những người có tay nghề tốt nhất trong vùng. Các trường công gửi các học sinh của họ đến trường của hội Pime để học thực hành trong khoảng 15 ngày. Các học sinh từ các làng mạc cách xa trường ba mươi cây số cũng đến học tại trường. Trường không bao giờ có đủ chỗ so với yêu cầu đăng ký học của các học sinh. Một khi nhận được bằng tốt nghiệp của trường này, các thanh thiếu niên rất được tuyển dụng, đặc biệt là các thợ máy và tài xế. Nhiều người đi làm tại Công ty Vận tải đường bộ, công ty xe buýt. Những người khác đi đến Kuwait và các nước vùng Vịnh Ba Tư.

Cha Pierre Ruquoy cùng với các tu sĩ  thuộc Hội dòng Trái tim Vô nhiễm Đức Maria được sai đến một tỉnh trung tâm của Zambia phục vụ.

Mặc dù là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng cuộc sống của người dân Zambia vô cùng khốn khổ. Một số người dân ở đây là những người đến từ Haiti, bởi chính sách nhập cư tự trị và phân biệt đối xử. Hơn 60% dân số sống dưới mức nghèo khổ và hiện tượng tham nhũng thực sự lan tràn. Hầu hết cư dân  buộc phải làm việc trong các đồn điền mía. Họ sống tập trung trong các bateys, đó là những ngôi làng được dựng lên ở giữa các đồn điền mía, nơi sinh sống của các công nhân và gia đình. Các túp lều này được làm bằng vật liệu tái chế.

Trong các ngôi làng này, mọi người được sinh ra và chết, không để lại dấu ấn; họ sống như nô lệ. Ở đây nhân quyền không tồn tại. Mọi dịch vụ cho người dân dường như không có: không có dịch vụ y tế, không có nước, không có  một sự an toàn nào, con cái không được giáo dục, không được nhà nước bảo hộ. Công nhân là những người thợ cắt mía. Công việc của họ thường rất nặng nề và lương trả rất thấp. Tất cả mọi sinh hoạt của  họ trong cả ngày diễn ra xung quanh đồn điền mía, và sau đó họ gặp nhau vào buổi tối ở các căn lều.

Từ lâu, nhiều nơi trên thế giới, đã xem bệnh phong cùi là một “lời nguyền rủa” vì sự lây nhiễm của nó, mức độ tàn tật thể chất nặng nề mà nó gây cho bệnh nhân, cũng như tỷ lệ tử vong tương đối cao. Tuy nhiên, ngày nay bệnh phong là một căn bệnh có thể chữa được, nếu được phát hiện sớm và chữa trị. Tại Bangladesh, một nước đông dân và nghèo khổ, trong nhiều thập niên, bệnh phong cùi cũng bị xem như một thứ dịch hạch. Tuy nhiên các chương trình của chính quyền và các tổ chức y tế thế giới đã giúp để quốc gia này không còn những người bị bệnh phong nữa. Trong khi đó, bệnh lao vẫn được xem là mối đe dọa đối với sức khỏe công cộng tại Bangladesh. Nước này đứng thứ 6 trong sô 22 quốc gia có nguy hiểm bùng phát bệnh lao phổi. Hiện tại, cứ 100 ngàn người thì có 225 người bị lây nhiễm và hang năm có 45 người chết vì căn bệnh này.

Hiện nay, trung tâm y tế Damian House do các Nữ tu truyền giáo Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội điều hành, chăm sóc chữa trị miễn phí cho các bệnh nhân phong cùi và lao phổi ở miền nam Bangladesh.  Qua một thời gian hoạt động, giúp chữa trị cho các bệnh nhân phong, vào năm 2001, các nữ tu nhận thấy số bệnh nhân trong vùng giảm xuống nhiều, nhưng con số bệnh nhân bị lao lại gia tăng. Trung tâm y tế của các sơ đã nhanh chóng thành lập một phân khoa chữa trị bệnh lao. Năm 2012, các sơ cũng mở một khoa chữa trị cho các bệnh nhân bị nhiễm virus HIV và bị bệnh sida. Mỗi năm, các sơ chữa trị cho gần 400 bệnh nhân nội trú, trong khi số bệnh nhân được khám bệnh và phát thuốc lên đến khoảng 11 ngàn người.

Nào ai hiểu thấu ?

Câu truyện cổ điển kể về thánh tiến sĩ Au-gu-ti-nô bao ngày tháng suy nghĩ tìm hiểu về mầu nhiệm hang đầu của đạo Chúa này, cũng như mong có chút ánh sáng để giảng dạy cho giáo hữu. Thế là một ngày kia, ngài đi dạo trên bờ biển, tiếp tục suy nghĩ lao lung về tín điều này, thì bỗng dưng thấy một bé trai cứ lấy miếng vỏ sò liên tục múc nước biển đổ vào một lỗ nhỏ trên cát, xem ra bực bội vì nước không ở lại làm đầy cái lỗ nhỏ như ý mình muốn…Thánh nhân dừng chân đối thoại rồi khuyên em bé chớ uổng công phí sức nữa. Nhưng bất ngờ nghe em đáp :”Cháu làm việc này còn không vô nghĩa bằng việc bác cứ đòi hiểu mầu nhiệm 1 Chúa 3 ngôi”. Rồi em biến đi mất. Vị tiến sĩ hiểu ngay rằng Chúa đã dùng em bé (1 thiên thần ?) tới dạy ngài bài học để đời…

Thánh kinh Cựu ước không hề nhắc tới mầu nhiệm cao cả này. Thời gian chưa thích hợp với dân Do Thái. Người Do Thái trong Giao Ước cũ chưa nhận biết Thiên Chúa có Ba Ngôi, vì niềm tin ‘độc thần giáo’ chưa tỏ lộ hết mầu nhiệm Thiên Chúa, và vì sợ lẫn lộn với đa thần giáo của dân ngoại. Người Do Thái cũng tin vào ‘thần khí’ Thiên Chúa, vào ‘lời Thiên Chúa’, nhưng chưa dám nghĩ rằng đó là những ngôi vị khác với Thiên Chúa, song chỉ được đồng hóa với Thiên Chúa. Chỉ những ai tin vào Đức Kitô mới tuyên xưng đức tin Ba Ngôi.

“Với sự ra đời của Hội Thánh Nhi, một hình thức sứ vụ mới cũng được hình thành. Sứ vụ này đặt ân sủng của bí tích rửa tội ở trung tâm, vì đây là nguồn mạch phát sinh nghĩa vụ truyền giáo của mọi Kitô hữu. Các em thiếu nhi cũng có quyền nhận sứ vụ này cũng như có quyền trao tặng sứ vụ này. Đây là lần đầu tiên trong Giáo hội, các thiếu nhi trở thành những người truyền giáo, đóng vai chính trong việc mục vụ, bằng sự đơn sơ khiêm nhường của các em. 175 năm từ khi ra đời, Hội Thánh Nhi thực hiện sứ vụ cứu vớt các trẻ em nhờ chính các trẻ em.” Đó là những lời mà sơ Roberta Tremarelli, Tổng thư ký của Hội nhi đồng truyền giáo, hậu thân của Hội Thánh Nhi, đã nói về Hội này nhân dịp kỷ niệm 175 năm thành lập.

Hội Thánh Nhi do Đức cha Charles de Forbin Janson thành lập. Tên của hội diễn tả ý muốn của Đức cha, là phó thác hội cho sự bảo vệ của Chúa Giêsu Hài đồng. Đức cha Charles de Forbin Janson sinh ra trong một gia đình Công giáo quý tộc, lớn lên trong bầu khí gia đình tràn đầy niềm tin vào Thiên Chúa và trung thành với Đức Giáo hoàng và Giáo hội. Ngay từ khi còn thơ bé, Janson đã quan tâm đến người nghèo khổ và các bạn bè xung quanh. Năm 18 tuổi, Janson gia nhập Học viên quân đội và sau đó tiếp tục việc học tại Paris. Khi Napoleon trở thành hoàng đế nước Pháp, Giáo hội gặp khó khăn với sự chống đối Giáo hội và bài giáo sĩ. Chính lúc này, Janson đã từ chối vị trí thành viên Hội đồng tư vấn quốc gia do chính hoàng đế Napoleon bổ nhiệm và quyết định trở thành linh mục để phục vụ Chúa và Giáo hội, đặc biệt là để bênh vực Đức Giáo hoàng, để tái truyền giảng đức tin cho nước Pháp, lúc này đang chống giáo sĩ, và truyền giảng Tin mừng cho thế giới.

Khi nói về cuộc đời của ĐHY József Mindszenty, vị tôi tớ Chúa, ĐHY Beniamino Stella, Bộ trưởng Bộ Giáo sĩ chia sẻ trong Thánh lễ do Ngài chủ tế vào ngày 02-5-2018, nhân dịp kỷ niệm  40 năm ngày mất của Đức Hồng y Hungary: "Đây chính là một gương mẫu cho đời sống linh mục và lòng nhiệt thành tông đồ, mà với tôi, tôi vẫn còn nợ Ngài rất nhiều". Với đầy cảm xúc, Đức Hồng Y Beniamino Stella nói: «Tôi vẫn còn nhớ mãi những năm đầu tiên mà tôi được đào tạo trở thành linh mục; một hình ảnh, một mẫu gương mà tôi noi theo đó chính là ĐHY Mindszenty. Đây là một gương mặt mà tôi mang trong tim kể từ khi tôi còn là một cậu bé. Tôi được giáo dục từ các linh mục chăm sóc giáo xứ. Các Ngài đã sống sứ vụ của mình trong bóng tối của những gì được gọi là “Bức màn sắt".  ĐHY Mindszenty là một trong đố đó. Đó là những năm tháng đầy hỗn loạn và khó khăn, được ghi dấu bởi cuộc đàn áp Giáo hội Công giáo. Các Ngài đối với chúng tôi luôn được nói đến vớ sự ngưỡng mộ, tôn trọng".

Trong hành trình theo Chúa, ĐHY Mindszenty luôn thực hành đức tin một cách can đảm và trung thành, ngay cả trong thời gian bách hại. Ngài luôn sẵn sàng cho việc mục vụ, cho đoàn dân Chúa, không chùn bước trước khó khăn. Ngài là một vị mục tử tốt lành khiêm nhường, sẵn sàng hiến dând cuộc sống cho Giáo Hội và cho đất nước. Một người không mệt mỏi bảo vệ Học thuyết Kitô giáo. Chính Ngài đã từng bị các hoàng đế bách hại và năm lần phải sống lưu vong.

Sáng ngày 9 tháng 5 vừa qua, ông Mario Agnes, cựu giám đốc của báo Osservatore Romano, đã từ trần tại căn hộ nhỏ, đơn sơ, thanh bần, của mình ở nội thành Vatican, sau thời gian dài chống lại căn bệnh đang từng ngày làm ông suy kiệt, hưởng thọ 86 tuổi.

Mario Agnes sinh ngày 6 tháng 12 năm 1931 tại Serino, một thành phố nhỏ thuộc tỉnh Avellino, trong một gia đình Công giáo có nguồn gốc Công giáo sâu xa chắc chắn mà ông luôn gắn bó. Trong những năm đầu đời ở tỉnh nhà, Agnes đã bắt đầu như một chiến binh của phong trào Công giáo tiến hành với công việc giáo dục các thanh thiếu niên trong giáo xứ. Sau đó Agnes tốt nghiệp khoa văn chương tại đại học Napoli, rồi làm giảng viên lịch sử Kitô giáo tại Cassino và phụ gỉang tại đại học La Sapiena ở Roma. Ông Agnes đã giữ nhiều chức vụ trong phong trào Công giáo tiến hành, đề cao việc tin mừng hóa và thăng tiến con người. Trong thời gian này, ông Agnes củng cố chắc chắn mối liên hệ với hàng giáo phẩm, đặc biệt với các Đức Giáo hoàng: trước tiên là với ĐGH Phaolô VI và rồi với ĐGH Gioan Phaolô II. Vào năm 1984, ĐGH Gioan Phaolô II đã đặt ông làm giám đốc báo Quan sát viên Roma và ông đã giữ nhiệm vụ này cho đến năm 2007.

Ngày 28/04/2018, tại thành phố Cracovia của Ba lan, Đức Hồng y Angelo Amato, tổng trưởng Bộ phong thánh, đã chủ sự Thánh lễ phong chân phước cho bà Hanna Chrzanowska. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Giáo hội một nữ điều dưỡng giáo dân được tuyên phong chân phước.

Giống như thánh Phanxicô Assisi, Hanna Helen Chrzanowski xuất thân từ một gia đình quý tộc danh giá, nhưng cô đã quyết định dành cuộc đời của mình cho các linh hồn đang đau khổ. Thân phụ của Hanna, ông Ignacy Chrzanowski, là một giáo sư văn chương Ba lan tại đại học Jagiellonian ở thành phố Cracovia; tuy là một tín hữu Công giáo nhưng ông không sốt sắng thực hành đạo. Thân mẫu của Hanna, bà Wanda Szlenker, là một tín hữu Tin lành. Cả hai ông bà thân sinh của Hanna đều thuộc những gia đình có truyền thống yêu nước và họ nổi tiếng về các hoạt động bác ái.

Khi còn trẻ, Hanna cũng xa lìa đức tin Công giáo nhưng sau thế chiến thứ hai, cô đã có một kinh nghiệm hoán cải sâu sắc. Vào khoảng cuối thời gian trung học, Hanna đã tham dự khóa học kéo dài 2 tháng do Hội Chữ thập đỏ Hoa kỳ tổ chức để chăm sóc cho các người lính trong thời chiến tranh Bôn-sê-vích tại Ba lan. Năm 1920, Hanna đã quyết định trở thành một điều dưỡng khi biết tại Vác-sa-va vừa mở một trường điều dưỡng. Năm 1924, sau khi tốt nghiệp, Hanna nhận được học bổng học nâng cao tại Pháp và Bỉ.

Tổ chức Kripa được cha Joe Pereira khai sinh vào năm 1981 tại Bandra, một huyện của Mumbai. Kripa trong tiếng Phạn có nghĩa là "ân sủng"; đây là một tổ chức phi chính phủ của Mumbai chuyên giúp phục hồi bệnh nhân nhiễm HIV và những người nghiện ma tuý. Ngày nay tổ chức Kripa là một tổ chức phi chính phủ lớn nhất ở Ấn Độ với 69 cơ sở, ở 12 bang của Ấn Độ. Tổ chức cộng tác với các hiệp hội rải rác khác ở châu Âu, Canada và Hoa Kỳ.

Vào năm 1981, tổ chức khởi đầu khiêm tốn trong một nhà thờ ở Bandra, với ba bệnh nhân nội trú, một linh mục, một bác sĩ và một người nghiện rượu. Trung tâm được sự hổ trợ từ cộng đồng, nhận được sự tài trợ thông qua các khoản trợ cấp của chính phủ Ấn Độ, cũng như các cơ quan tài trợ quốc gia và quốc tế.

Hơn một phần tư thế kỷ phục vụ, Tổ chức Kripa đã phát triển với một mô hình không phân biệt đối xử. Ngày nay, Kripa đang đi đầu trong việc hỗ trợ đào tạo về nghiện may túy, phục hồi chức năng và HIV, cung cấp một loạt các dịch vụ cho cộng đồng, tạo điều kiện cho các cơ quan thực thi pháp luật, các cơ sở giáo dục và các cơ sở giáo dục khác tham gia vào phục vụ Khiêm tốn.

Cookies make it easier for us to provide you with our services. With the usage of our services you permit us to use cookies.
Ok