Offcanvas Section

You can publish whatever you want in the Offcanvas Section. It can be any module or particle.

By default, the available module positions are offcanvas-a and offcanvas-b but you can add as many module positions as you want from the Layout Manager.

You can also add the hidden-phone module class suffix to your modules so they do not appear in the Offcanvas Section when the site is loaded on a mobile device.

Chương 5: Giáo hội như người chủ đạo chính của thể thao

Từ đầu cho tới đây, văn kiện đã tìm cách lượng giá và đánh giá thể thao, ý nghĩa và các chiều kích khác nhau của nó, được nhìn trong khuôn khổ cái hiểu của Kitô giáo về con người và xã hội công chính. Trong khi các cơ hội và tiềm năng thể thao to lớn được đánh giá, các nguy hiểm, đe dọa và thách thức mà nó đặt ra cũng được xem xét.

Trong tư cách dân Thiên Chúa, Giáo Hội được nối kết và thực sự quan tâm đến thể thao như một thực tại đương đại của con người. Đương nhiên, Giáo Hội cảm thấy được kêu gọi làm mọi điều có thể làm trong phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của mình để bảo đảm thể thao được thực hiện một cách nhân đạo và hợp lý.

“Việc chăm sóc mục vụ thể thao là một thời điểm cần thiết và là một phần không thể thiếu trong việc chăm sóc mục vụ thông thường của cộng đồng. Mục đích đầu tiên và chuyên biệt của Giáo hội trong lĩnh vực thể thao được biểu hiện như một cam kết mang lại ý nghĩa, giá trị và quan điểm cho việc thực hành thể thao như một sự kiện nhân bản, bản thân và xã hội”[65].

Vào năm 1993, khi Bardhe Gjini 21 tuổi, lần đầu tiên cô gặp người dì của mình, là sơ Julja Gjoka, và Gjini cảm thấy sợ sợ. Khi đó Gjini chưa được rửa tội; cô chưa hiểu gì về đời tu. Cô cảm thấy sợ vì dì của mình và các nữ tu khác đều mặc những trang phục đen hoàn toàn, nhìn như những góa phụ. Dì của Gjini hỏi cô có muốn trở thành một nữ tu không. Gjini trả lời dì của mình là cô không muốn. Nhưng mà hiện nay, tại chính thành phố mà lần đầu tiên họ gặp nhau, Gjini lại là một nữ tu cùng dòng với dì Gjoka của mình, người đã cùng các chị em trong dòng sống đức tin cách bí mật trong thời cộng sản.

Từ năm 1945, Albania bị chính quyền cộng sản do Enver Hoxha lãnh đạo, đàn áp khắc nghiệt. Chính quyền cộng sản đã bách hại và giết hàng trăm giáo sĩ và giáo dân. Năm 1967, nhà nước cộng sản chính thức cấm đạo, giải tán các cơ sở tôn giáo và trục xuất các tu sĩ ngoại quốc. Các tu sĩ người Albania được lệnh phải trở về quê nhà và rời bỏ đời tu. Tại Vlore, 5 thành viên của dòng Nữ tỳ Đức Bà của Shkodra đã quyết định chống lại lệnh của chính quyền cộng sản, dù họ có thể gặp nguy hiểm, có thể bị cầm tù và bị chết. Sơ Gjoka là nữ tu trẻ nhất trong số 5 nữ tu và khi ấy sơ còn chưa khấn trọn đời. Các nữ tu tiếp tục sống trong căn hộ ở tầng 2, sát bên nhà thờ thánh Luigi. Chính quyền đã chiếm nhà thờ, xây dựng lại các bức tường nhà thờ, đập phá tháp chuông và biến nó thành một nhà hát.

Chương 4: Các thách thức dưới ánh sáng Tin Mừng

4.1 Một nền thể thao nhân bản và công chính

Chúng ta đã nói về các khía cạnh ý nghĩa của thể thao cũng như vị trí của nó trong việc tìm kiếm điều tốt và sự thật. Tuy nhiên giống bất cứ thực tại nhân bản nào khác, thể thao có thể quay mặt chống lại nhân phẩm và nhân quyền. Do đó Giáo Hội lên tiếng khi thấy nhân phẩm và hạnh phúc thực sự của con người bị đe dọa.

Cổ vũ các giá trị nhân bản trong thể thao

Sự phát triển hiện nay trong thể thao phải được đánh giá theo việc liệu chúng có khởi đi từ việc nhìn nhận phẩm giá con người và thể hiện sự tôn trọng thỏa đáng đối với người khác, đối với mọi tạo vật và môi trường hay không. Hơn nữa, Giáo Hội nhìn nhận tầm quan trọng của niềm vui được tham gia vào thể thao và sự trung thành cùng hiện hữu với nhau của người ta. Khi các quy tắc thể thao được đồng thuận ở bình diện quốc tế, thì các vận động viên từ các nền văn hóa, các quốc gia và tôn giáo khác nhau được hưởng trải nghiệm chung về việc thi đua công bằng và vui tươi, một điều có thể giúp cổ vũ sự đơn nhất của gia đình nhân loại.

Bằng cách tham gia vào thể thao, người ta có thể cảm nghiệm sự hiện hữu bằng thân xác của họ một cách đơn giản và tích cực. Bằng cách chơi trong một đội, các vận động viên nhận thấy các cảm nghiệm thỏa mãn nhất xảy ra khi người chơi có mối liên kết chặt chẽ với nhau và chơi đẹp với nhau.

Phê phán việc chỉ đường sai

Từ quan điểm này, một loạt các hiện tượng và phát triển phải được đánh giá một cách có phê phán. Điều này áp dụng vào thể thao hệt như vào các lãnh vực khác của cuộc sống trong xã hội. Giáo huấn xã hội của Giáo Hội luôn nhắc nhở chúng ta rằng những người tham gia chính trị, kinh tế, hay khoa học phải tự hỏi liệu các hành động của họ có phục vụ con người nhân bản và trật tự công chính hay không. Những người tham gia vào thể thao cũng phải đối đầu với câu hỏi này.

Dorothy Day sinh ở New York vào năm 1897. Phần lớn tuổi thơ và giai đoạn đầu của tuổi trẻ bà ở Chicago. Ở đó, bà nghiên cứu trong hai năm tại Đại học, trước khi trở về New York cùng với gia đình vào năm 1916. Tại New York, Dorothy làm việc như một phóng viên cho "The Call" và sau đó cho tạp chí «The Masses», một  tờ báo phản đối sự tham gia của Mỹ trong cuộc chiến bùng nổ ở châu Âu. Trong tháng mười một năm đó, Dorothy Day đã bị bắt giữ vì đã cùng với bốn mươi phụ nữ tụ họp trước Nhà Trắng để phản đối việc loại trừ phụ nữ khỏi quyền bỏ phiếu. Tại New York, nhà báo trẻ đã sống một cuộc sống rất khó khăn, bà bắt đầu có mối quan hệ với nhà báo Lionel Moise, một người không tử tế trong tình yêu. Bà đã mang thai và phá thai. Đó là một trải nghiệm đau đớn luôn theo bà suốt đời, bà không thể quên hình ảnh kẻ ăn chơi vô trách nhiệm. Bà nghĩ bà đã trở nên vô sinh và không bao giờ có thể có con nữa. Bà lại có mối quan hệ khác, đó là Forster Batterham, một nhà thực vật học, với ông bà gặp một tình yêu trưởng thành hơn; bà thực sự sống một giai đoạn ổn định về mặt tình cảm và đầy cảm xúc. Với Forster, Dorothy đã học được một tình yêu dành cho thiên nhiên. Và một ngày nọ, bà rất ngạc nhiên phát hiện mình có thai. Trong một quá trình tái sinh nội tâm và niềm vui mãnh liệt, bà đã có một đứa con gái và bà đặt tên là Tamar Theresa.

“Một cuộc đời hoàn toàn dâng hiến cho Thiên Chúa và phục vụ người dân thành phố Aleppo!” Vì điều này, chúng ta dâng lời tạ ơn Chúa và cầu nguyện để những kỷ niệm và chứng tá cuộc sống của sơ củng cố niềm hy vọng của chúng ta và trở thành gương mẫu cho chúng ta và thúc đẩy chúng ta hướng về tương lai, để cho Nước Chúa hiển trị. Đó là những lời mà các nữ tu dòng thánh Giuse đang hoạt động tại bệnh viện thánh Luy ở Aleppo thông tin về việc sơ Marguerite Slim được Chúa gọi về Nhà Cha, hưởng thọ 90 tuổi.

Sơ Marguerite Slim sinh ngày 3 tháng 6 năm 1928, tại Jezzine, nước Libăng, với tên gọi thời niên thiếu là Nadima Slim. Slim là con thứ tư trong gia đình có 5 người con. Khi lên 8 tuổi, mẹ của Slim qua đời và cô bé được gửi đến viện mồ côi do các nữ tu dòng thánh Giuse ở Khan, thuộc thành phố Saida, phụ trách, để tiếp tục học hành tại đây. Năm 1949, Slim bị đau xương sống nên được gửi đến Aleppo và được bác sĩ Henri Fruchaud mổ thoát vị đĩa đệm. 3 tháng sau khi được phẫu thuật, Slim ở lại Aleppo và làm việc tại đây 1 năm. Trong thời gian này, Slim đã nhận ra tiếng Chúa gọi dâng hiến cuộc đời để phục vụ tha nhân.

Năm 1950, Slim gia nhập đệ tử viện của dòng thánh Giuse và sau đó thực hành năm nhà tập theo luật của dòng tại tu viện của dòng tại thành phố Marseilles, nước Pháp. Năm 1952, Slim được tuyên khấn lần đầu và nhận bài sai đi phục vụ tại bệnh viện ở Aleppo. Do sơ Slim còn trẻ và có những phẩm chất chuyên nghiệp cũng như nhân bản, bác sĩ Fruchaud đã nhận sơ làm trợ lý cho ông trong phòng mổ. Cùng với bác sĩ Fruchaud, sơ Slim đã làm việc ngày đêm, không ngại cực khổ, mệt nhọc, để xoa dịu đau đớn cho các bệnh nhân.

Là một mục sư, cố vấn quốc gia, sáng lập viên của nhiều hoạt động xã hội, hơn thế nữa Ernst Sieber còn là một ngôn sứ vì đã dám lên tiếng tố cáo việc loại trừ những người nghèo trong xã hội. Với những ngôn từ mạnh mẽ, một phong cách độc đáo, hành động dứt khoát, tiếng nói của ông vang lên từ Thụy Sĩ, Đức lan đi các nơi khác trên thế giới.

Ernst Sieber sinh năm 1927 tại Horgen, ban đầu chàng thanh niên làm việc ở trang trại, sau đó theo các khóa học nghiên cứu về thần học tại đại học Zurich. Sau một năm dấn thân phục vụ trong các khu xóm nghèo của Paris, năm 1956 Sieber trở lại Zirich và hoạt động mục vụ. Từ năm 1967 cho đến khi về hưu vào năm 1992, ông là mục sư của cộng đoàn Zurich.

Ngay từ những năm 1960, ông đã dấn thân phục vụ cho những người vô gia cư. Ernst Sieber bắt đầu cuộc đấu tranh của mình cho những người bị thiệt thòi sống ở Zurich. Đó là vào mùa đông 1963, một mùa đông rất lạnh, trong đó toàn bộ bề mặt của hồ Zurich bị đóng băng.

Ông Carlo Castagna, một cư dân của Erba, ở Ý trở nên nổi tiếng từ năm 2006, ông được mọi người biết đến với lòng ngưỡng mộ không phải vì ông là một thiên tài nhưng vì là người đã sống niềm tin của mình một cách anh hùng, qua việc can đảm tha thứ cho những người đã sát hại chính người thân của ông. Từ nơi ông người ta thấy được một người bình thường như  mọi người nhưng lại có một điều khác biệt mọi người, một người đã sống kinh nghiệm của sự tha thứ.

Carlo Castagna không muốn nói nhiều về những gì ông đã thực hiện, ông đã 75 tuổi, cảm thấy mệt mỏi, thực tâm ông bị cám dỗ từ chối lời mời ông nói lên những gì ông đã trải nghiệm về sự tha thứ. Nhưng sau đó, vì vâng lời Giáo hội mà ông cảm nhận như người mẹ và trên hết tất cả sự kiên định của mình, ông bắt đầu câu chuyện của tha thứ.

Vụ thảm sát xảy ra vào tối ngày 11 tháng 12 năm 2006, do chính những người hàng xóm thực hiện. Đó là vợ chồng Rosa và Olindo. Họ đã ra tay sát hại vợ, con gái và cháu trai của ông chỉ vì những lý do nhỏ nhặt thường xảy ra trong các khu phố. Ông Carlo Castagna cũng như những người hàng xóm khác, trong những ngày này cùng với gia đình đang trang trí căn phòng cho dịp lễ Giáng Sinh và đón năm mới. Vào ngày kinh hoàng đó ông đang thiu thiu ngủ trước ti vi chờ vợ về. Ớ dưới gốc cây thông Noel quà đã được chuẩn bị sẵn sàng cho mọi người đặc biệt cho cháu trai bé nhỏ. Nhưng rồi cái ác đã đến, sự lạnh lùng của nó đã đến trong ngôi nhà ấm cúng tràn đầy tình yêu của ông. Địa ngục không cần một lý do nào mà người ta có thể đoán trước, phá vỡ bầu khí thanh bình. Bất chợt ông cảm thấy mưa nhiều và lạnh, rồi tiếng còi xe của cảnh sát, những tiếng la lớn, đám đông. Tất cả hiện lên trước mắt ông hình ảnh kinh hoàng của những nạn nhân của vụ giết người mà họ chính là vợ, con và cháu của ông.

Enrico Meregalli sinh năm 1948, là một thừa sai giáo dân của Hội Giáo hoàng truyền giáo, thường được gọi là Hội Pime. Từ hơn 40 năm nay, thầy Enrico sống tại Eluru, một thành phố thuộc bang Andhra Pradesh, Ấn độ. Tất cả người dân ở Eluru đều biết Enrico bởi tay nghề điêu luyện của Enrico, bởi việc dạy học cho rất nhiều thanh thiếu niên tại trường kỹ thuật mà từ rất lâu nay thầy là linh hồn của nó, nhưng trên hết là vì trái tim vĩ đại của người đã tìm thấy gia tài được chôn dấu tại góc khuất xa xôi của Ấn độ.

500 thanh thiếu niên từ 15 đến 18 tuổi ở ngôi trường nổi tiếng được Hội truyền giáo Pime thành lập cạnh 3 cơ sở giáo dục khác của Eluru. Tại đây các học sinh học để trở thành các thợ máy, thợ sửa xe hoặc thợ điện. 10 giáo viên, 10 nhân viên là những người có tay nghề tốt nhất trong vùng. Các trường công gửi các học sinh của họ đến trường của hội Pime để học thực hành trong khoảng 15 ngày. Các học sinh từ các làng mạc cách xa trường ba mươi cây số cũng đến học tại trường. Trường không bao giờ có đủ chỗ so với yêu cầu đăng ký học của các học sinh. Một khi nhận được bằng tốt nghiệp của trường này, các thanh thiếu niên rất được tuyển dụng, đặc biệt là các thợ máy và tài xế. Nhiều người đi làm tại Công ty Vận tải đường bộ, công ty xe buýt. Những người khác đi đến Kuwait và các nước vùng Vịnh Ba Tư.

Cha Pierre Ruquoy cùng với các tu sĩ  thuộc Hội dòng Trái tim Vô nhiễm Đức Maria được sai đến một tỉnh trung tâm của Zambia phục vụ.

Mặc dù là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng cuộc sống của người dân Zambia vô cùng khốn khổ. Một số người dân ở đây là những người đến từ Haiti, bởi chính sách nhập cư tự trị và phân biệt đối xử. Hơn 60% dân số sống dưới mức nghèo khổ và hiện tượng tham nhũng thực sự lan tràn. Hầu hết cư dân  buộc phải làm việc trong các đồn điền mía. Họ sống tập trung trong các bateys, đó là những ngôi làng được dựng lên ở giữa các đồn điền mía, nơi sinh sống của các công nhân và gia đình. Các túp lều này được làm bằng vật liệu tái chế.

Trong các ngôi làng này, mọi người được sinh ra và chết, không để lại dấu ấn; họ sống như nô lệ. Ở đây nhân quyền không tồn tại. Mọi dịch vụ cho người dân dường như không có: không có dịch vụ y tế, không có nước, không có  một sự an toàn nào, con cái không được giáo dục, không được nhà nước bảo hộ. Công nhân là những người thợ cắt mía. Công việc của họ thường rất nặng nề và lương trả rất thấp. Tất cả mọi sinh hoạt của  họ trong cả ngày diễn ra xung quanh đồn điền mía, và sau đó họ gặp nhau vào buổi tối ở các căn lều.

Từ lâu, nhiều nơi trên thế giới, đã xem bệnh phong cùi là một “lời nguyền rủa” vì sự lây nhiễm của nó, mức độ tàn tật thể chất nặng nề mà nó gây cho bệnh nhân, cũng như tỷ lệ tử vong tương đối cao. Tuy nhiên, ngày nay bệnh phong là một căn bệnh có thể chữa được, nếu được phát hiện sớm và chữa trị. Tại Bangladesh, một nước đông dân và nghèo khổ, trong nhiều thập niên, bệnh phong cùi cũng bị xem như một thứ dịch hạch. Tuy nhiên các chương trình của chính quyền và các tổ chức y tế thế giới đã giúp để quốc gia này không còn những người bị bệnh phong nữa. Trong khi đó, bệnh lao vẫn được xem là mối đe dọa đối với sức khỏe công cộng tại Bangladesh. Nước này đứng thứ 6 trong sô 22 quốc gia có nguy hiểm bùng phát bệnh lao phổi. Hiện tại, cứ 100 ngàn người thì có 225 người bị lây nhiễm và hang năm có 45 người chết vì căn bệnh này.

Hiện nay, trung tâm y tế Damian House do các Nữ tu truyền giáo Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội điều hành, chăm sóc chữa trị miễn phí cho các bệnh nhân phong cùi và lao phổi ở miền nam Bangladesh.  Qua một thời gian hoạt động, giúp chữa trị cho các bệnh nhân phong, vào năm 2001, các nữ tu nhận thấy số bệnh nhân trong vùng giảm xuống nhiều, nhưng con số bệnh nhân bị lao lại gia tăng. Trung tâm y tế của các sơ đã nhanh chóng thành lập một phân khoa chữa trị bệnh lao. Năm 2012, các sơ cũng mở một khoa chữa trị cho các bệnh nhân bị nhiễm virus HIV và bị bệnh sida. Mỗi năm, các sơ chữa trị cho gần 400 bệnh nhân nội trú, trong khi số bệnh nhân được khám bệnh và phát thuốc lên đến khoảng 11 ngàn người.

Cookies make it easier for us to provide you with our services. With the usage of our services you permit us to use cookies.
Ok