Offcanvas Section

You can publish whatever you want in the Offcanvas Section. It can be any module or particle.

By default, the available module positions are offcanvas-a and offcanvas-b but you can add as many module positions as you want from the Layout Manager.

You can also add the hidden-phone module class suffix to your modules so they do not appear in the Offcanvas Section when the site is loaded on a mobile device.

Cha Giovanni Mometti đã đến truyền giáo ở vùng Amazzonia từ năm 1956, khi chỉ mới 20 tuổi. Cha đã ở giữa những người bệnh phong cùi suốt 40 năm.

Sáng ngày 07.01 năm nay (2019), trong bài giảng trong Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Marta, khi nói về “sự điên rồ” của Thiên Chúa, ĐTC Phanxicô đã nói: “Đôi khi Chúa Thánh Thần thúc đẩy chúng ta đến với những ‘sự điên rồ của Thiên Chúa’, như đã xảy ra với một người mà hôm nay đang ở giữa chúng ta, người từ 40 năm nay đã rời bỏ nước Ý để trở nên nhà truyền giáo giữa những người bệnh phong cùi.”

Người đó chính là cha Giovanni Mometti, người đã đến truyền giáo ở vùng Amazzonia từ năm 1956, khi chỉ mới 20 tuổi. Hiện nay, cha Giovanni, hay là cha Joao, như người dân Brazil gọi cha, đã 82 tuổi, vẫn còn truyền giáo tại Igarapè-Açù, bang Parà, vùng Amazzonia, của Brazil, và cha vẫn còn hăng hái tràn đầy nhiệt huyết.

Cuộc đời của cha Giovanni Mometti

Cha Giovanni Mometti sinh ngày 29 tháng 06 năm 1936 tại Bornato và đã trở thành tu sĩ dòng Salêdiêng ở Missaglia. Ngày 27 tháng 12 năm 1956, ở tuổi 20 thầy Giovanni lên đường đi truyền giáo ở một vùng thuộc miền đông bắc của Brazil. Từ năm 1956-1959, thầy Giovanni theo học triết học tại Brazil, rồi trở thành giáo sư của học viện dòng tên ở Belém, Parà, vùng Amazzonia trong 3 năm. Sau đó, thầy Giovanni tiếp tục chương trình thần học ở San Paolo, Brazil, và chịu chức linh mục vào năm 1966. Sau khi chịu chức linh mục, cha Giovanni trở về lại Ý để thăm gia đình và các bề trên đã yêu cầu cha tiếp tục việc học hành nghiên cứu tại đại học Gregoriana ở Roma. Trong 2 năm, từ 1967-1969, cha đào sâu nghiên cứu về nhân chủng học và dân tộc học, địa lý nhân văn, lịch sử các tôn giáo, việc phát triển cho thế giới thứ ba và thần học truyền giáo.

Cha Giovanni sau đó đã trở thành thư ký của tỉnh dòng truyền giáo Manaus ở Amazzonia trong một năm; cha tham gia tổ chức 2 tổng hội đặc biệt cho các nhà truyền giáo dòng Salêdiêng để canh tân hoạt động truyền giáo; cha cũng là giáo sư tại trung tâm nghiên cứu và chuẩn bị các nhân sự truyền giáo cho vùng Amazzonia và điều phối viên của các cuộc họp đổi mới cho các nhà truyền giáo Salêdiêng. Từ năm 1970-1973, cha là Ủy viên Hội đồng Giám mục Quốc gia Brazil về việc hoạt động mục vụ cho vùng Amazzonia và cộng tác viên cho hai Hội đồng của tất cả các Giám mục vùng này. Năm 1973 là một năm vô cùng quan trọng vì cha thành lập Phong trào Gioan 23, một tổ chức bác ái, quảng bá sự phát triển của Amazzonia, có trụ sở tại thành phố Belém do Parà.

Bên cạnh các hoạt động tổ chức, cha Giovanni còn dấn thân cộng tác trong việc phân chia các phần đất cho những nông dân canh tác nhỏ. Cha xây dựng và sửa chữa 3000 căn nhà cho người bệnh phong cùi đã được lành bệnh. Cha xây dựng 50 trung tâm cộng đồng cho các trường học và các khóa đào tạo. Tổ chức 212 khóa đào tạo cấp thời cho các nông dân và các người trẻ, con cái của các bệnh nhân phong cùi và các nông dân cho sinh hoạt nông nghiệp và văn hóa phát triển. Cha được bổ nhiệm làm cha sở của xứ Igarape- Acu.

Tro dùng trong phụng vụ có từ thời Cựu Ước. Tro biểu tượng cho sự u buồn, cái chết và sự thống hối.

Chẳng hạn, trong sách Esther, Mordecai mặc áo vải thô và xức tro khi nghe chiếu chỉ của vua Ahasuerus (hay Xerxes, 485-464 BC) ra lệnh giết hết người Do Thái trong Đế quốc Ba Tư (Et 4, 1). Ông Gióp (câu chuyện được viết vào khoảng giữa thế kỷ thứ 7 và 5 trước Công nguyên) cũng mặc áo vải thô và xức tro khi sám hối (G 42, 6). Khi tiên báo thành Giêrusalem bị quân Babylon chiếm đóng, Đaniel (khoảng năm 550 BC) viết: “Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài van” (Đn 9, 3). Vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, sau khi Giona rao giảng về sự thống hối và hoán cải, cả thành Ninivê ăn chay và mặc áo vải nhặm, ngồi trên đống tro (Gn 3, 5-6). Những bằng chứng trong Cựu Ước này cho thấy từ lâu đã có sử dụng tro cũng như ý nghĩa biểu tượng của nó được nhìn nhận.

Chân phước Carlo Gnocchi, một linh mục người Ý, sinh năm 1902 và qua đời năm 1956 vì bệnh ung thư, sau khi đã hiến tặng giác mạc cho hai thiếu niên mù. Nhờ cha, nhiều trẻ em bị thương tổn vì chiến tranh đã có thể sống một đời sống bình thường. Cha được ĐGH Biển đức XVI tuyên phong chân phước ngày 25.10.2009, tại Milan.

Trong thời thế chiến thứ hai, cha Gnocchi là tuyên úy tình nguyện trong quân đội tại mặt trận Hy lạp – Albani, để chia sẻ số phận với những người trẻ. Những kinh nghiệm chiến tranh và giải ngũ của các binh lính Ý thúc đẩy cha suy tư về mầu nhiệm đau khổ, đặc biệt nơi những người vô tội và các trẻ em. Từ đó cha đã dấn thân vào hoạt động bác ái dành cho các trẻ em mồ côi vì chiến tranh và những người thương tật.

Cha không cảm thấy ghê tởm khi ôm lấy chúng tôi…

Ông Mario D’Alessandro, năm nay 79 tuổi, hiện đang sống tại tỉnh Chieti, miền Abruzzo, nước Ý, là một trong những người thương tật được cha Carlo Gnocchi giúp đỡ. Ông chia sẻ: “Chúng tôi là những đứa trẻ đau khổ và nhờ cha, chúng tôi lớn lên thanh thản, can đảm, tự tin trong cuộc sống. Cha không cảm thấy ghê tởm khi ôm lấy chúng tôi, những người không có chân, không có tay, với những vết thương sâu đến mức như muốn làm biến dạng cả linh hồn cũng như thể xác. Chúng tôi, những đứa trẻ tàn tật của cha.

Mong muốn thông truyền cho người khác niềm tin vào Chúa Kitô mà mình đã nhận được nhờ sự hy sinh của nhiều nhà truyền giáo là điều đã thúc đẩy cha Gioan Phe Thu, vượt qua khoảng cách 12 ngàn km để loan báo Tin Mừng ở Châu Phi, cụ thể là tại Guinea Bissau, vùng đất truyền giáo của cha kể từ năm 2011.

Các thừa sai của Hội Truyền giáo Giáo hoàng hải ngoại, gọi tắt là PIME đã hiện diện tại Myanmar từ 150 năm nay. Khi mà các thừa sai ngoại quốc ngày càng cao niên và ít đi thì một dấu hiệu hy vọng đã xuất hiện: những người trẻ Myanmar, từ gương sáng của các nhà truyền giáo mà họ đã biết từ khi còn thơ bé, đã chọn dâng hiến cuộc đời cho việc truyền giáo cho dân ngoại. Trong số những thừa sai trẻ người Myanmar của Hội Pime có cha Gioan Phe Thu.

Từ gương sáng của các nhà truyền giáo

Cha Gioan Phe Thu sinh năm 1976 tại Mye Ni Kone, ở thành phố Loikaw, bang Kayah, Myanmar. Cùng với tổng giáo phận Taunggyi, Toungoo, Kengtung, Lashio và Pekhon, đây là một trong sáu giáo phận được các nhà truyền giáo PIME thành lập trong 150 năm hiện diện ở Myanmar. Hội truyền giáo PIME đã hiện diện trong một số giai đoạn quan trọng nhất trong lịch sử của Myanmar. Dù ký ức về những nhà truyền giáo vẫn còn sống động giữa những người Công giáo, cha Gioan chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ chia sẻ kinh nghiệm linh mục của các ngài. Cha Gioan Phu The chia sẻ về hành trình linh mục của mình:

"Ơn gọi của tôi bắt đầu nảy sinh từ khi tôi còn là một thiếu niên, từ khi tôi vẫn không biết phải tìm kiếm thông tin ở đâu hoặc làm gì để trở thành linh mục. Ban đầu, tôi muốn trở thành một linh mục giáo phận vì tôi không nhận thấy sự khác nhau giữa các linh mục triều hay dòng. Vào năm 21 tuổi, tôi bắt đầu chương trình đào tạo tôn giáo ở Taunggy, và ở đó tôi đã gặp một số nhà truyền giáo PIME; đặc biệt là cha Adriano Pelosin. Cha tỏ cho chúng tôi thấy ý nghĩa của cuộc đời truyền giáo và cho chúng tôi tham gia vào các chương trình và sáng kiến từ thiện ở các làng lân cận ".

“Mẹ Maria luôn ở bên tôi trong suốt thời gian tôi bị bệnh; Mẹ che chở tôi mỗi ngày". Đây là những lời chứng của ca sĩ nỗi tiếng Italia, Eva Pevarello tại buổi phát sóng sự kiện truyền hình âm nhạc X Factor.

Eva Pevarello sinh năm 1990, tại Vicenza, Italia, trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật, đem niềm vui đến cho mọi người qua những biểu diễn chuyên nghiệp và cả những trò vui nho nhỏ. Khi còn nhỏ, Eva theo cha mẹ đi lưu diễn khắp nơi. Cha mẹ Eva thường có mặt trong các lễ hội, hội chợ trên khắp nước Italia. Trong số những người thân của cô có những người tiếp tục làm công việc này: bà của Eva đã 91 tuổi hiện nay vẫn làm việc tạo ra những cây kẹo bông. Chú của Eva một người là diễn viên đóng thế nổi tiếng, một người chú khác chơi violin. Eva có một người cha mà cô rất ngưỡng mộ và một người bà, một nữ diễn viên và ca sĩ, với niềm tin mãnh liệt vào Chúa. Đây toàn bức tranh gia đình, trong đó Eva lớn lên. Cô nói: "Bà tôi sống đức tin kiên vững. Khi còn nhỏ, bà nói với tôi một cách đầy trìu mến về Chúa Giêsu và Đức Mẹ, và tôi cảm thấy gần gũi với các Đấng. Đó là một cảm giác khó giải thích, nhưng vì sự chắc chắn đó chưa bao giờ rời bỏ tôi".

Trong khi đó, thời gian trôi qua, Eva tốt nghiệp chuyên nghành vẽ và thành lập một ban nhạc nữ. Cô biểu diễn trong khắp vùng Veneto.
Một căn bệnh bất ngờ.

Cuộc đời cô dường như đã đi đúng hướng khi cô phát hiện mắc bệnh ung thư. Một đội ngũ bác sĩ, cùng với các xét nghiệm, nỗi sợ về tương lai bắt đầu đến với cô. Eva nói: "Tôi cảm thấy trong tôi có nhiều điều thay đổi, sức khỏe bị yếu đi. Điều đó thật tồi tệ, tôi sợ điều tồi tệ nhất sẽ xảy ra". Nữ ca sĩ tiếp tục: “Nhưng chính trong những giây phút sợ hãi và không chắc chắn đó tôi đã khám phá lại cảm nhận đức tin được ẩn sâu trong tâm hồn tôi. Tôi cảm thấy sức mạnh vĩ đại bên trong tôi. Đó là đức tin, đức tin đó tôi được học từ khi còn nhỏ từ những lời của bà tôi”.

Một cha sở mê xe mô-tô, yêu phim ảnh và thích đá banh; những sở thích này đã được cha sử dụng như những cách thức để loan báo Tin mừng. Vị linh mục đó là cha Filippo Cappelli.

Cha Filippo Cappelli sinh năm 1976, thụ phong linh mục ngày 28.06.2014. Cha kể về ơn gọi của mình như sau: “Sau một thời gian tìm kiếm, giữa thể thao, âm nhạc và công việc, một ý nghĩa thích hợp cho cuộc đời mình, cuối cùng trái tim tôi đã tìm được sự yên tĩnh trong ơn gọi linh mục. Trước khi vào chủng viện học thần học, tôi đã tốt nghiệp về nghệ thuật, âm nhạc và kịch nghệ và có bằng triết học. Tôi cũng có bằng về điện ảnh. Hơn nữa, vào giữa tháng 3 và tháng 7 tới, tôi sẽ bảo vệ luận án tâm lý học.”

Hiện nay cha Filippo là nhà báo, cộng tác với tuần báo Corriere Cesenate của giáo phận Cesano từ nhiều năm nay trong chuyên mục phim ảnh và bóng đá. Cha dạy môn tôn giáo tại trường trung học Monti và học viện kỹ thuật Garibaldi-Da Vinci. Cách nay không lâu, cha được cha Giám đốc văn phòng quốc tế của HĐGM Ý mời phụ trách mục vụ về cách sử dụng thời gian rảnh rỗi, về du lịch và thể thao, và điều phối văn phòng mục vụ đường phố. Mục đích của chương trình mục vụ là để phát triển các chương trình liên quan đến những người sống trên đường phố vì yêu thích chứ không phải vì thất nghiệp, đặc biệt những người yêu xe mô-tô.

“Tôi đã từng là phi công trực thăng, giờ đây tôi bay đến với Thiên Chúa.” Đó là lời của cha Daniele Leoni, sinh năm 1971, một cựu đại úy phi công trực thăng. Đại úy Leoni giờ đây sống trong một làng quê nhỏ có 750 giáo dân và từ 3 năm nay được mọi người biết đến với tên đơn giản là cha Daniele.

Cha Daniele mới chỉ là cha sở ở Pozzo, vùng Arezzo, nước Ý, từ một năm nay, nhưng cha dường như đã là một người dân của ngôi làng này. Người ta có thể cảm nhận điều này khi thấy cha được chào hỏi trên đường, khi thấy mối liên hệ thật sự với những người cha gặp. Tuy nhiên, cuộc sống yên bình của một trong những làng quê ở Val di Chiana là điều gì đó mới mẻ đối với cha Daniele, người đã quen đi khắp thế giới và sống trong những bối cảnh không có sự yên tĩnh thanh bình. Đôi khi với dòng nước mắt lưng lưng khóe mắt, đôi khi với niềm tự hào và nỗi nhớ, cha Daniele kể lại cuộc đời binh chủng của mình, với cả ngàn chuyến hành quân và khó khăn, không có sự thanh bình, và lý do đã đưa cha trở thành linh mục.

Nữ tu cao tuổi nhất thế giới, André Randon, sẽ mừng sinh nhật thứ 115 vào ngày 11-2-2019 tới đây.

 Nữ tu André Randon, tục danh là Lucille Randon, sinh ngày 11-2-1904 tại Alès thuộc tỉnh Gard miền nam Pháp. Năm lên 12 tuổi chị bắt đầu làm nướn trong các gia đình, và sau làm nghề dạy kèm tại tư gia. Trong số các gia đình chị phục vụ có cả gia đình Peugeot chế tạo xe hơi. Sau thế chiến thứ hai chị phục vụ các em cô nhi tại Nhà thương Vichy ở Paris.

 Năm 1923, khi được 19 tuổi, chị chịu phép rửa tội và năm 1944, chị gia nhập dòng Nữ tử bác ái thánh Vinh Sơn Phaolô tại Paris. Từ năm 2009 đến nay, chị sống trong một nhà dưỡng lão tại thành phố Toulon. Chị bị mù và phải ngồi trên xe lăn, nhưng rất tỉnh táo.

 Cho đến nay nữ tu André Randon đã trải qua 10 triều đại Giáo Hoàng, 3 nền cộng hòa của Pháp.

 Chị André Randon cũng được coi là phụ nữ cao niên nhất nước Pháp là là người cao tuổi đứng thứ 7 trên thế giới. (KNA 8-2-2019)

G. Trần Đức Anh OP - Vatican

Năm 1949, Hội các linh mục cộng tác giúp Mỹ Latinh (OCSHA) được thành lập tại Tây Ban Nha. Trong những năm 70 năm, Hội này đã gửi hơn 2.300 linh mục đến Mỹ Latinh, để hợp tác trong việc củng cố các cộng đồng Kitô giáo. Hiện nay, trong số các vị vẫn còn hơn 200 linh mục thuộc các giáo phận Tây Ban Nha tham gia phục vụ truyền giáo tại những vùng đất thuộc châu Mỹ Latinh.

Rao giảng Tin Mừng là một yếu tố cơ bản của Giáo hội, một chiều kích mà trong năm nay được nhấn mạnh hơn qua việc cử hành Tháng truyền Giáo đặc biệt vào tháng 10 tới đây. Trong số các thực tế truyền giáo đã được thiết lập có Hội các linh mục cộng tác giúp Mỹ Latinh (OCSHA) được thành lập tại Tây Ban Nha vào năm 1949. Trong những năm 70 năm, Tổ chức này đã gửi hơn 2.300 linh mục đến Mỹ Latinh, để hợp tác trong việc củng cố các cộng đồng Kitô giáo. Hiện nay, trong số các vị vẫn còn hơn 200 linh mục thuộc các giáo phận Tây Ban Nha tham gia phục vụ truyền giáo tại những vùng đất thuộc châu Mỹ Latinh này.

Theo tin tức được gửi đến Hãng tin Fides của Bộ Truyền giáo từ ngày 28 tháng 01 đến ngày 1 tháng 02, 35 linh mục của OCSHA, cùng với hai Giám mục, gặp nhau tại Santiago, Chile để tiếp tục cùng nhau suy tư về sứ vụ. Trong số các vị hiện diện có nhiều linh mục đã ở Mỹ Latinh trong hơn 50 năm, và như thế chính các linh mục này trao ban một lời chứng xác thực về cuộc đời truyền giáo.

“Những tấm lưới của đan viện có vẻ làm mất đi nữ tính của tôi, ngược lại tôi tin rằng chính nó bảo vệ và làm cho nữ tính của tôi nên phong phú, bởi vì chính nó có khả năng đón nhận và trao ban vô điều kiện. Đây là điều nghịch lý mà chỉ có trong Thiên Chúa mới thực hiện được. Một khu vườn đóng kín, nhưng nó lại thuộc về tất cả; một đài phun nước đóng kín nhưng lại tràn đầy Sức ống trong một con tim ẩn giấu của Giáo hội”.

Nội dung của câu chuyện được Hãng Thông tấn Công Giáo Thụy Sĩ thực hiện thông qua một cuộc phỏng vấn với chính nữ đan sĩ. Nhưng chị nữ tu trẻ không muốn cho mọi người biết danh tính của mình. Chị hòa điệu ơn gọi đặc biệt của mình qua việc từ bỏ tất cả các vinh quang của con người, tất cả sự công nhận hoặc đáng giá cao trong thế giới của chúng ta, cùng với trực giác về mầu nhiệm Thiên Chúa đã đòi hỏi nữ đang sĩ có một chọn lựa đặc biệt. Nữ đan sĩ ấy như những thiếu nữ khác cùng độ tuổi đã trải qua những năm đại học, có bạn trai và đang chuẩn bị đính hôn, một tấm bằng trong túi.

Sơ đã đến với đức tin khởi từ một cảm xúc thất vọng. Chuyện gì đã xảy ra?

Trong Tin Mừng Thánh Gioan, tường thuật Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên vào khoảng bốn giờ chiều. Đối với tôi, cuộc gặp gỡ đầu tiên với Chúa là vào Chúa nhật Lễ Lá năm 1999, tôi không nhớ giờ, cũng như không nhớ bộ quần áo tôi mặc và cả góc nhà thờ tôi đứng. Tôi đứng yên tại đó, cảm thấy như mình bị bỏ rơi, ở ngoài cuộc. Thực tế, đơn giản chỗ đó là nơi đầu tiên tôi bước ra khỏi nhà, chẳng có lý do nào cả, ngoài một sự thúc đẩy mà tôi không cưỡng lại được và tôi ra khỏi giường và tìm một nhà thờ và bước vào đó.

Tôi chưa bao giờ tham dự Thánh lễ cũng như tham dự bất kỳ sinh hoạt tôn giáo nào, vì đối với tôi việc học là quan trọng hơn hết, vì nó tôi hy sinh tất cả. Sau khi học xong chương trình phổ thông, tôi rời gia đình và bạn bè để chuyển đến một thành phố, tại đây tôi theo học đại học chuyên ngành y khoa. Và rồi ở đó vào một buổi sáng với con tim nặng trĩu buồn vì một nỗi thất vọng lớn về tình cảm. Tôi cảm thấy bị tổn thương, bị tổn thương trong phẩm giá nữ tính của mình. Tôi quyết định khá ngây thơ là không thể tin cậy vào bất cứ ai, bởi vì trong tình yêu chẳng có gì là chắc chắn. Tôi nghĩ tôi sẽ sống với ý nghĩa cuộc sống như thế, không hy vọng vào một tình yêu chắc chắn và đáng tin cậy.

Cho đến khi cử hành phụng vụ tới phần công bố Tin Mừng về cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu, tôi hiểu rằng cái chết của Chúa trên Thánh giá là cho tôi. Tôi không thể giải thích được điều này, tôi cảm thấy trái tim bị đâm thủng, và tôi hiểu ý nghĩa của những lời này. Tôi bật khóc không ngớt, trong đó niềm vui và nỗi đau đan xen nhau. Nỗi đau cho cái xấu mà tôi muốn trao cho nó, nhưng cũng là niềm vui vì cảm nhận được sự chắc chắn mật thiết của một Tình yêu cứu chuộc được ban tặng cho tôi vô điều kiện.

Cookies erleichtern die Bereitstellung unserer Dienste. Mit der Nutzung unserer Dienste erklären Sie sich damit einverstanden, dass wir Cookies verwenden.