Ủy ban Giáo lý Đức Tin tổ chức hội thảo thần học
SAIGÒN – Vào lúc 8g00 sáng ngày 21 tháng 4 năm 2012, tại Phòng Họp lầu 2 thuộc khu nhà Truyền Thống của Trung Tâm Mục Vụ Saigòn, đã khai mạc hội thảo (forum) thần học do Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin (UBGLĐT), trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tổ chức dưới sự chủ tọa của Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Chủ Tịch Ủy ban Giáo lý Đức tin. Thành phần Ban Tổ Chức gồm có: Đức Cha Chủ Tịch Phaolô Bùi Văn Đọc, Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hiền, Linh mục Giuse Nguyễn Văn Am, Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, Linh mục Antôn Hà Văn Minh, Linh mục Phaolô Vũ Chí Hỷ, Linh mục Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn.
Diễn đàn thần học này được tổ chức nhằm đáp lại thao thức của Đại hội Dân Chúa năm 2010, cũng như nhận ra nhu cầu khích lệ suy tư đức tin một cách sâu xa và có tính nghiên cứu. Được sự gợi ý và động viên của Đức Cha Chủ tịch UBGLĐT, Tổ Thần Học của UBGLĐT cố gắng khởi đầu tổ chức một forum về thần học dành cho những người đang trực tiếp giảng dạy và nghiên cứu thần học trong các chủng viện và các học viện của Giáo hội. Diễn đàn thần học lần này có những kết quả đáng kể bước đầu, cho phép chúng ta lạc quan hướng đến những sinh hoạt định kỳ trong việc suy tư thần học, nhằm hỗ trợ cho những định hướng hoạt động mục vụ cho Giáo hội tại Việt Nam trong tương lai.
Kính mời quý vị cùng theo dõi:
1. Loan báo Tin Mừng, Tái loan báo Tin Mừng, Loan báo mới Tin Mừng cách mới mẻ: những bài học lịch sử. Thuyết trình viên: Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
2. Loan báo Tin Mừng cách mới mẻ dưới chiều kích: Giáo Hội như là Dân Thiên Chúa. Thuyết trình viên: Lm. Antôn Hà Văn Minh.
3. Loan báo Tin Mừng cách mới mẻ dưới góc độ: Giáo Hội như là Thân Mình Chúa Kitô. Thuyết trình viên: Lm. Phaolô Vũ Chí Hỷ, SSS.
4. Loan báo Tin Mừng cách mới mẻ theo góc nhìn Giáo Hội như là Đền thờ Chúa Thánh Thần. Thuyết trình viên: Lm Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn.
ĐỀ TÀI 1: LOAN BÁO TIN MỪNG, TÁI LOAN BÁO TIN MỪNG
LOAN BÁO TIN MỪNG CÁCH MỚI MẺ:
NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ
Bài thuyết trình gồm hai phần chính. Phần thứ nhất tìm hiểu ý nghĩa của từ evangelizatio trong lịch sử. Phần thứ hai tìm hiểu những đợt sóng “mới” của việc loan báo Tin mừng trong lịch sử, dựa theo cha Cantalamessa và cha Menin. Kết luận: những bài học về cái mới.
Tôi xin mở đầu cho buổi hội thảo với việc nghiên cứu lịch sử từ ngữ nova evangelizatio cũng như những bài học lịch sử của evangelizatio.
Bài này được chia làm hai phần. Trong phần thứ nhất, chúng ta đặt câu hỏi: evangelizatio là gì, nova evangelizatio là gì? Đây là câu chuyện về từ ngữ. Trong phần thứ hai, chúng ta thử hỏi: có phải đây là lần đầu tiên vấn đề nova evangelizatio được nêu lên, hay là trong quá khứ đã có nhiều đợt nova evangelizatio? Nếu đã có nhiều đợt nova evangelizatio, thì cái “mới” nằm ở chỗ nào?
I. Lịch sử từ ngữ: evangelizatio là gì?
Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của từ ngữ evangelizatio, thường được dịch là “Phúc-âm-hoá” (do đó, nova evangelizatio là “Tân Phúc âm hóa”), hoặc “loan báo Tin mừng” (hay: rao giảng Phúc âm, truyền bá Phúc âm). Từ ngữ nào sát nghĩa hơn? Điều này đòi hỏi không những phải truy tầm nguyên gốc của nó trong Tân ước, mà còn phải khảo sát cách thức nó được xử dụng trải qua lịch sử của Hội Thánh.
A. Tầm nguyên: evangelium, evangelizare, evangelizatio, evangelicus, evangelismus
1/ Trong Tân Ước không có danh từ “evangelizatio”, nhưng chỉ có động từ “evangelizare” và nhất là danh từ “evangelium”[1]. Các từ này đều bắt nguồn từ tiếng Hy-lạp: euangelion (tin vui, tin mừng, tin lành), euangelizo, euangelizomai (động từ), euangelistes (người đưa Tin Mừng)[2].
Evangelium là gì? Hồi còn nhỏ (tạm cho là cách đây 60 năm), khi đi lễ Chúa Nhật, tôi được nghe đọc sách “Evan”. Khi đi tu (tạm cho là cách đây 55 năm), tôi được nghe đọc sách “Phúc âm”. Từ thập niên 60, từ “Phúc âm” rất được phổ biến ở Việt Nam: sách Phúc âm, rao giảng Phúc âm, các lời khuyên Phúc âm. Từ thập niên 90, thấy từ “Tin Mừng” dần dần xuất hiện trong thánh đường, tuy rằng cho đến nay, trong giới nhà tu, người ta vẫn còn nói đến “ba lời khuyên Phúc âm, tinh thần Phúc âm”.
Một điều không kém thú vị là theo dõi sự biến đổi việc dịch thuật của anh em Tin Lành. Danh xưng “Tin Lành” gốc bởi tiếng Anh Evangelicals. Thế nhưng, danh từ Evangelium đã được dịch nhiều cách trong các ấn bản Kinh Thánh: “Tin lành, Phúc âm, Tin mừng”. Chúng ta lấy một thí dụ ở Mc 1,1:
- bản truyền thống: “Đầu Tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời”.
- bản dịch mới: “Khởi đầu Phúc Âm về Chúa Cứu Thế Giê-su, Con Đức Chúa Trời”.
- bản dịch 2011: “Bắt đầu Tin mừng của Đức Chúa Giêsu Christ, Con Đức Chúa Trời”.
Khuôn khổ bài này không cho phép tôi đi sâu vào nội dung của Tin mừng. Chỉ xin nhấn mạnh rằng trong Tân Ước, evangelium (Tin Mừng) được hiểu về một sứ điệp loan báo; về sau, người ta mới hiểu về quyển sách ghi lại sứ điệp đó. Một cách tương tự như vậy, evangelista lúc đầu được hiểu về người đi loan báo sứ điệp Tin mừng; về sau mới được hiểu về người viết sách Tin Mừng, nói cụ thể là bốn “thánh sử” (Matthêu, Marcô, Luca, Gioan).
2/ Lịch sử Hội Thánh
Trong lịch sử Hội Thánh, nảy sinh ra nhiều từ ngữ bắt nguồn từ evangelium. Trước hết là tính từ evangelicus (thuộc về Tin Mừng), chẳng hạn như “consilia evangelica” (những lời khuyên của Tin Mừng), và cách riêng những từ ngữ evangelical, evangelism, evangelization do phong trào “Phục hưng Tin lành” (Evangelical Revival) phổ biến từ thế kỷ XIX. Đang khi tại Âu châu, vào thời Trung cổ, các phong trào “Tin lành” nhấn mạnh đến việc trở về nguồn, sống theo tinh thần của Tin Mừng (evangelismus), thì tại Hoa kỳ, các phong trào Tin Lành đề cao sứ mạng “rao giảng Tin Lành” cho người ngoại giáo (preaching the Gospel to Non-Christians). Những từ ngữ evangelization, evangelicals, evangelism ra đời trong bối cảnh đó. Nói cách khác, evangelizatio là một từ ngữ mới xuất hiện từ thế kỷ XIX[3], và được du nhập vào thần học Công giáo vào thế kỷ XX.
B. Evangelizatio – Missio
Từ lâu Hội Thánh Công giáo đã ý thức về sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Nhưng để ám chỉ công tác này, thần học đã sử dụng nhiều thuật ngữ.
1/ Thời xưa, việc loan báo Tin Mừng (giảng đạo, truyền giáo) được gọi bằng nhiều tên: Illuminatio gentium, Novos populos adducere in gremio sanctae matris Ecclesiae, Propagatio Fidei, Conversio gentilium, Praedicatio Evangelii in universo orbe, Labor salutiferae praedicationis ad innotescendum gentibus mysterium fidei, Conversio infidelium, Praedicatio apostolica, Procuratio salutis ad barbaras gentes, Novella Christianitatis plantatio, Promulgatio Evangelii, Viam salutis et lucis infidelibus insinuare, Procuratio salutis omnium gentium, Legatio ad gentes, Dilatatio Ecclesiae per universum orbem, vv.
2/ Vào thời cận đại, từ ngữ quen thuộc hơn cả là missio. Danh từ này mang nhiều ý nghĩa trải qua dòng thời gian.
Theo nguyên gốc, missio là một danh từ gốc bởi động từ mittere (sai, gửi, phái, cử). Missio được thần học xử dụng trong nhiều bối cảnh:
a) Áp dụng cho mầu nhiệm Ba ngôi (missiones divinae, trinitariae): Chúa Cha đã “sai” Con Một đến thế gian; Chúa Kitô “sai” Thánh Thần đến Giáo Hội.
b) Áp dụng cho sứ mạng của Hội Thánh: Đức Giêsu sai các tông đồ tiếp tục sứ mạng của Ngài. Hội thánh tiếp tục sứ mạng của các thánh tông đồ rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.
c) Từ thế kỷ XVI, danh từ missio được áp dụng vào nhiều lãnh vực:
- Giảng tuần đại phúc trong các xứ đạo, cách riêng ở thôn quê. Thánh Vinh-sơn Phaolô đã lập một hội dòng mang tên là “Congregatio Missionis” (1625) cho mục tiêu đó.
- Giảng Tin Mừng cho dân ngoại (missio ad exteros, missio ad gentes). Điển hình là việc Tòa Thánh thiết lập Thánh Bộ truyền bá đức tin để đi giảng đạo cho dân ngoại (1622). Đây cũng là ý nghĩa của tên gọi Hội dòng “Missions étrangères de Paris” (MEP: Hội Thừa sai Paris).
- Lãnh thổ truyền giáo (đại khái bao trùm các lục địa Phi và Á châu) được đặt dưới sự quản trị của Bộ Truyền Bá Đức tin.
3/ Công đồng Vaticanô II
Hai danh từ missio và evangelisatio xuất hiện trong nhiều văn kiện.
a) Danh từ missio được dùng theo nhiều nghĩa, đặc biệt là trong Sắc Lệnh Ad gentes:
- việc sai đi, bắt nguồn từ Chúa Cha (AG 2);
- toàn thể sứ mạng của Hội Thánh (AG 9-10; xc. LG 17);
- một hoạt động chuyên biệt của Hội Thánh: rao giảng Tin Mừng cho những ai chưa biết Chúa (AG 6; 20; 27b);
- một miền (lãnh thổ) được đặt dưới thẩm quyền của Bộ Truyền Bá Đức Tin (AG 29).
b) Đặc biệt danh từ “evangelizatio” cũng được du nhập vào các bản văn của Công đồng (31 lần)[4], cách riêng là trong Sắc lệnh về Truyền giáo Ad Gentes (21 lần)[5]. Danh từ được dùng theo ba nghĩa:
- nghĩa hẹp: rao giảng Tin Mừng cho người ngoài Kitô giáo, tương đương với công bố kerygma (số 6);
- theo một nghĩa rộng hơn: việc làm chứng tá bằng lời nói và gương lành (số 14);
- rộng hơn nữa, nó đồng nghĩa với toàn bộ công tác truyền giáo, nghĩa là việc thi hành ba tác vụ của Hội Thánh (số 20; 27; 29; 30; xem thêm số 23; 35-36; 38; 39; 40; 41).
c) Tương quan giữa “missio” và “evangelizatio”
Sắc lệnh Ad gentes xem ra chấp nhận quan điểm thông thường vào thời đó. Evangelizatio được đặt trong khung cảnh truyền giáo cho dân ngoại (Missio ad gentes), chứ không bao trùm toàn thể Giáo Hội. Mặt khác, evangelizatio hẹp hơn là missio; evangelizatio: trình bày Tin Mừng (bằng lời nói và gương lành) cho các dân ngoại, còn missio bao gồm không những là việc loan báo mà còn việc giáo huấn, phụng vụ, cầu nguyện và các công tác mục vụ (xc. AG số 10). Nên biết là Bộ Truyền giáo đã được đổi tên với cuộc cải tổ giáo triều sau công đồng Vaticanô II (15/8/1967), từ “S. Congregatio de Propaganda Fide” sang “S.C. pro Evangelizatione gentium”.
4/ Evangelii nuntiandi
Đây là tựa đề của tông huấn sau Thượng hội đồng giám mục thế giới họp năm 1974 về đề tài “De evangelizatione mundi huius temporis”. Đức Thánh Cha Phaolô VI nhìn nhận rằng evangelizatio là một công tác rất đa diện[6] (EN số 17-24), bao gồm nhiều khía cạnh:
- loan báo Tin Mừng cách mặc nhiên (bằng chứng tá: số 21) hoặc minh nhiên (số 22);
- thiết lập cộng đoàn Hội Thánh (số 23;24);
- cứu độ toàn diện: giải thoát con người khỏi tội lỗi cũng như khỏi những cảnh cùng khổ (số 30-38);
- thấm nhập vào các nền văn hoá (số 20; 62-65).
Ta nhận thấy rằng evangelizatio có thể hiểu vừa rất chặt vừa rất rộng (số 18):
(i) rất chặt: công bố Tin Mừng cho người ngoài Kitô-giáo; (ii) rất rộng: đem men Tin Mừng vào trong hết mọi lãnh vực của cuộc sống, nghĩa là biến đổi mọi thực thể nhân loại cho phù hợp với Tin Mừng, từ lối suy tư cá nhân cho đến các lối sinh hoạt của các dân tộc. Thực ra việc loan báo Tin mừng được thực hiện vừa bằng lời nói vừa bằng chứng tá đời sống, cũng như bằng những hoạt động để biến đổi mọi sự cho hợp với Tin mừng. (Hiểu theo nghĩa này thì có thể dịch là “Phúc âm hóa”).
Dù sao, tông huấn Evangelii nuntiandi đã làm đảo lộn mối tương quan giữa missio và evangelizatio. Trước đây (trong Sắc lệnh Ad gentes số 6), evangelizatio ám chỉ một khía cạnh của công tác truyền giáo (missio). Bây giờ, evangelizatio bao trùm toàn thể hoạt động của Hội Thánh, trong đó missio chỉ là một lãnh vực của nó[7].
Một điều quan trọng mà tông huấn Evangelii nuntiandi đã nhấn mạnh là trước khi Hội thánh lên đường loan báo Tin mừng, thì cần phải hoán cải theo Tin mừng đã[8]. Nói cách khác, đối tượng loan báo Tin mừng không phải chỉ là thế giới nhưng là chính các phần tử của Hội thánh.
C. Re-evangelizatio - Nova evangelizatio
Những từ ngữ này xuất hiện trong các văn kiện của Hội đồng các Giám mục châu Mỹ Latinh (CELAM) trong các đại hội họp tại Medellin (1968) và Puebla (1979). Châu Mỹ đã được đón nhận Tin Mừng từ thế kỷ XV và số người Công giáo chiếm đa số; tuy nhiên, cần phải nghĩ đến việc “tái truyền giảng Tin Mừng” nhằm hun nóng niềm tin, cũng như tiếp tục việc thay đổi não trạng và cơ chế cho phù hợp với Tin Mừng.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng chấp nhận quan điểm đó. Tuy rằng thuật ngữ nova evangelizatio đã xuất hiện trong bài diễn văn tại Nowa Huta ngày 9/6/1979, nhưng được nhấn mạnh và đào sâu hơn kể từ bài diễn văn khai mạc Đại Hội CELAM tại Port-au-Prince (Haiti) ngày 8/3/1983: đây không phải là giảng Tin Mừng mới (xét về nội dung), nhưng là mới xét về nhiệt huyết, về phương pháp, về cách diễn tả. Từ đó từ ngữ này được áp dụng cho toàn thể Hội Thánh, thí dụ trong tông huấn Christifideles laici (năm 1988) ở các số 4 và 34. Cách riêng, trong thông điệp Redemptoris missio (năm 1990), số 33 đức Gioan Phaolô II đã cố gắng xác định các từ ngữ như thế này:
- Missio ad gentes: loan báo Tin Mừng cho những nơi và những người chưa biết Chúa Kitô.
- Cura pastoralis: hoạt động mục vụ tại những nơi đã theo đạo.
- Nova evangelizatio hay iterata evangelizatio: tại những nơi đã theo đạo nhưng đã lơ là với việc thực hành.
Thuật ngữ nova evangelizatio hơi hàm hồ. “Nova” có nghĩa là mới, nhưng “mới” theo nghĩa nào? Chắc chắn không phải là mới về nội dung (Tin mừng mới), nhưng là xét về phương pháp. Tuy nhiên khi nói đến phương pháp mới, phải chăng chúng ta nhìn nhận rằng các phương pháp áp dụng xưa nay là cũ rích , nghĩa là lỗi thời? Phải chăng khi nói đến phương pháp mới, chúng ta nghĩ rằng mình phải sáng chế ra cái gì khác thường, hay ít là chúng ta muốn làm cái gì khác, so sánh với những gì đã thực hiện từ xưa đến giờ? Phải chăng gián tiếp muốn nói rằng “hậu sinh khả uý”: ta sẽ có cái gì khác và còn hơn cha ông chúng ta?
Tôi xin nhường lời cho các diễn giả khác việc tìm ra những phương thế mới để loan báo Tin mừng cho thời đại chúng ta, đặc biệt là tại Việt Nam. Trong phần thứ hai của bài này, tôi muốn chia sẻ vài suy tư về những đợt loan báo Tin mừng trong lịch sử Giáo hội, từ đó chúng ta có thể học được những khía cạnh khác nhau của cái “mới” trong việc loan báo Tin mừng. Cái mới ngày hôm nay không hẳn phải là độc đáo so với quá khứ, nhưng là một bước tiến mới trong hành trình hai ngàn năm loan báo Tin mừng[9].
II. Những đợt sóng mới của công cuộc loan báo Tin mừng
Lịch sử truyền giáo đã trải qua nhiều chặng hoặc đợt. Chúng tôi xin trưng dẫn hai lối nhìn về những đợt ấy. Trước hết, chúng ta hãy nghe cha Raniero Cantalamessa trong loạt các bài giảng cho giáo triều Rôma vào mùa Vọng năm ngoái (được tóm lược và đăng trên internet[10]) về bốn đợt loan báo Tin mừng, với bốn chủ thể khác nhau. Kế đến, cha Mario Menin sẽ cho thấy sự khác biệt về phương pháp áp dụng trong bảy giai đoạn truyền giáo.
A. Bốn đợt loan báo Tin mừng (Raniero Cantalamessa)
Theo cha Cantalamessa, trong lịch sử Hội thánh đã có bốn thời điểm mà chúng ta chứng kiến một sự gia tăng hoặc lấy lại nỗ lực truyền giáo, đó là:
1. Sự bành trướng của Kitô giáo trong ba thế kỷ đầu tiên: nhân vật then chốt là các ngôn sứ lưu động và rồi các giám mục.
2. Thế kỷ VI-IX chứng kiến một cuộc tái truyền giảng Tin mừng ở châu Âu sau những cuộc xâm lăng của người man-di, cách riêng nhờ các đan sĩ.
3. Thế kỷ XVI, với cuộc khám phá các dân tộc của “tân thế giới”, việc truyền giáo được tiến hành cách riêng nhờ các tu sĩ.
4. Thời hiện tại, Giáo hội dấn thân vào cuộc tái truyền giảng Tin mừng cho Tây phương bị tục hóa, với sự tham gia chủ động của các giáo dân.
Sự phân chia bốn đợt muốn nêu bật những nhân vật chủ động cũng như những đối thể của công cuộc loan báo Tin mừng. Chúng ta hãy điểm qua đặc trưng của mỗi đợt.
1. Giai đoạn một: ba thế kỷ đầu[11].
Việc truyền giảng Tin mừng, khởi sự từ các thánh tông đồ, được tiếp tục bởi các tín hữu. Trong hai thế kỷ đầu tiên, việc giảng đạo do các sáng kiến của các cá nhân, cách riêng là các ngôn sứ lưu động, nay đây mai đó. Tin mừng được loan truyền nhờ những cuộc tiếp xúc thường nhật, qua hoạt động thương mại, qua những hoàn cảnh sinh sống. Từ hậu bán thế kỷ III, công cuộc truyền giáo được chuyển sang các cộng đồng địa phương, dưới sự chỉ đạo của giám mục. Sang cuối thế kỷ III, đức tin công giáo đã thấm nhập vào giai tầng xã hội. Giáo hội đã có cơ chế, cơ sở phụng tự. Những cuộc bách đạo dữ dội của hoàng đế Đioclêxianô chứng tỏ rằng các Kitô hữu đã trở thành một thế lực đáng nể. Hoàng đế Constantinô đành chấp nhận thực tại đó.
Các sử gia đã đưa ra nhiều giả thuyết để giải thích lý do của sự thành công: có thể là tấm gương yêu thương bác ái của các tín hữu; có thể là khả năng đáp ứng những khát vọng của thời đại, hoặc khả năng dung nạp những nền văn hóa khác biệt. Tuy nhiên, theo cha Cantalamessa, cần phải tìm lý do giải thích nơi chính động lực nội tại của nó. Tin mừng chứa đựng tiềm lực phát triển do chính Thiên Chúa đã gắn vào. Nó được ví như hạt giống được gieo vào lòng đất, rồi sinh hoa kết quả (Mc 4,26-29; 30-32). Con người gieo trồng, tưới; nhưng chính Thiên Chúa mới là Đấng cho hạt giống lớn lên (xc. 1Cr 3,6-7). Những con người với bản tính yếu ớt do dự, nhưng tin tưởng vào quyền lực của Chúa, đã thực hiện được điều phi thường. Đức tin đã trở nên sức mạnh để truyền giáo cũng như để dám chấp nhận cái chết.
2. Giai đoạn hai: thế kỷ V-XI
Giai đoạn này bắt đầu không phải từ sắc chiếu của hoàng đế Constantinô cho phép các Kitô hữu được tự do hành đạo, nhưng là từ khi đế quốc Rôma sụp đổ năm 476 trước sự tấn công của quân man di. Nhiều người nghĩ rằng tận thế đã gần kề, nhưng may thay nhờ những vị mục tử sáng suốt, Giáo hội ý thức một thời cơ mới mở ra cho việc truyền giảng Tin mừng. Trước đây, Kitô giáo đón nhận văn hóa Hy-lạp và Rôma vào khối gia sản đức tin; bây giờ đến lượt Kitô giáo dùng kho tàng văn hóa của mình để giáo dục những ông chủ mới tới. Thực ra công cuộc rao giảng Tin mừng ở giai đoạn này (kéo dài cho đến thế kỷ IX) gồm nhiều mặt trận: một đàng củng cố đức tin nơi những người đã theo đạo, cách riêng ở vùng thôn quê; đàng khác, rao giảng Tin mừng cho những dân chưa biết Chúa, cách riêng ở vùng Bắc Âu. Như thế việc giảng đạo cũng bao hàm việc giáo dục văn hóa. Những nhân vật chủ chốt của công tác này là các đan sĩ, bên Tây cũng như bên Đông.
Một bài học của giai đoạn này là việc loan truyền Tin mừng đi đôi với việc đối thoại văn hóa, nhưng nhất là nhiệt khí bắt nguồn từ đời sống chiêm niệm, như các đan sĩ đã cho thấy. Điều này có nghĩa là không những các đan sĩ sống đời chiêm niệm cần cầu nguyện nhiều cho các nhà truyền giáo, nhưng mà các nhà truyền giáo cần phải trở nên những con người chiêm niệm.
3. Giai đoạn ba: loan báo Tin mừng cho lục địa mới
Không bao lâu sau cuộc khám phá châu Mỹ (1492), các nước châu Âu đã chiếm đóng lục địa này, mang theo những truyền thống tôn giáo và chính trị của mình: Bắc Mỹ theo Tin Lành, Mỹ châu Latinh theo Công giáo. Cha Cantalamessa chú ý đến phương pháp truyền giáo của Tây Ban Nha tại Nam Mỹ. Đế quốc Tây Ban Nha chiếm đất đai của thổ dân, và bắt họ phải theo Kitô giáo. Xem ra Tin mừng đi kèm theo vũ lực. Tuy nhiên, cần phân tích sự kiện kỹ lưỡng hơn. Một đàng, không thiếu những tiếng nói bảo vệ quyền lợi của thổ dân (điển hình là cha Bartolomé de las Casas). Đàng khác, đàng sau chính sách cưỡng bách theo đạo là thần học đương thời, theo đó ai không gia nhập Giáo hội sẽ bị trầm luân (Extra Ecclesiam nulla salus).
Nhân dịp kỷ niệm 500 năm khám phá lục địa (1992), có người đòi xét lại vấn đề: sau khi đã chủ quyền chính trị đã được trả lại cho dân bản xứ, phải chăng đã đến lúc phải trả lại tôn giáo cổ truyền cho các thổ dân? Phải chăng Kitô giáo là một cái họa cho dân bản xứ?
Không, phải nói ngược lại: chính nhờ khám phá đức Kitô mà người thổ dân đã nhận được sự giải phóng toàn diện. Mặc dầu trong 500 năm truyền giáo có những vết tối, nhưng những luồng sáng còn nổi bật hơn nhiều. Những nhân vật chủ lực của công cuộc rao truyền Tin mừng ở lục địa này là các tu sĩ (Phan-sinh, Đa-minh, Au-tinh, Dòng Tên). Do lòng yêu mến Chúa Giêsu thúc đẩy, họ muốn chinh phục các linh hồn về cho Chúa. Họ đã đem hết mọi tài năng để góp phần phát triển xã hội tại địa phương.
Những cuộc tranh luận về thần học giải phóng đã nêu bật một yêu sách của việc truyền giảng Tin mừng: phát triển con người, thăng tiến xã hội. Nguy cơ của mọi cuộc tranh luận là chỉ bảo vệ một khía cạnh này và coi nhẹ khía cạnh kia. Có người tố cáo rằng Giáo hội Công giáo chú trọng đến công lý hoà bình và coi nhẹ đời sống tâm linh, cho nên nhiều tín hữu đã bị lôi cuốn bởi các giáo phái Tin Lành đề cao đời sống cầu nguyện, Thánh linh.
Dù sao, khi nhìn lại quá khứ, sở dĩ trước đây các dòng tu đã cung cấp số đông các nhà truyền giáo là vì nếp sống của họ được tràn đầy thần khí, biểu lộ qua nếp sống khó nghèo, tinh thần huynh đệ, đời sống cầu nguyện. Phải chăng đó là điều khác biệt với thời nay?
4. Giai đoạn bốn: thế giới tục hoá
Đây là thời đại mà chúng ta đang sống. Giáo hội phải loan báo Tin mừng cho thế giới Tây phương hậu Kitô giáo, nghĩa là tuy mang truyền thống Kitô giáo nhưng trở thành dị ứng với sứ điệp Tin mừng, do ảnh hưởng của não trạng duy khoa học, tục hoá và duy lý.
Thách đố mới của việc loan báo Tin mừng là làm sao đưa con người thời đại đến gặp gỡ Đức Kitô. Thực vậy, Tin mừng là Đức Kitô chịu chết trên thập giá và phục sinh, Đức Kitô sống động. Loan báo Tin mừng có nghĩa là đem Đức Kitô vào cuộc sống hôm nay.
Tuy rằng các giám mục, linh mục, tu sĩ vẫn giữ vai trò chủ động, nhưng các ngài là “chủ chăn” hơn là “ngư phủ”: muốn tiến ra khơi, lăn lội vào hàng cùng ngõ hẻm, thì cần các giáo dân. Các giáo dân là những người mang Tin mừng đến với những người ở xa nhà thờ, những người chưa biết Chúa. Các giáo dân loan báo Tin mừng qua chứng tá cá nhân của cuộc sống hằng ngày, cũng như qua các đoàn thể, hội đoàn, phong trào. Môi trường đầu tiên để loan báo Tin mừng là gia đình, trường học của tình yêu.
Nhận xét
Cha Cantalamessa thú nhận rằng việc phân chia bốn đợt loan báo Tin mừng muốn làm nêu bật đối tượng nhằm đến: thế giới văn hóa Hy-lạp Rôma, thế giới các dân man di, thế giới châu Mỹ, thế giới tục hóa, chứ không bao gồm toàn thể công cuộc truyền giáo (chẳng hạn như việc loan báo Tin mừng tại Á châu). Việc phân chia bốn đợt cũng muốn chú trọng đến các nhân tố chủ động của mỗi giai đoạn: giám mục (từ thế kỷ III), đan sĩ, tu sĩ, giáo dân, tuy không quên rằng tác nhân chủ động là Chúa Kitô phục sinh.
Bây giờ chúng ta sẽ nghe một tác giả khác phân tích các giai đoạn lịch sử truyền giáo dựa trên những biên cương mới cũng như những phương pháp mới, đó là bài viết của cha Mario Menin tựa đề “Storia e modelli della presenza missionaria della Chiesa” (Lịch sử và những khuôn mẫu của sự hiện diện truyền giáo của Giáo hội) được đăng trên mạng SEDOS[12].
B. Bảy hoàn cảnh lịch sử
Trước tiên tác giả nhìn nhận rằng trong công cuộc nghiên cứu lịch sử Giáo hội, có hai khuynh hướng tiếp cận đối nghịch nhau: một bên chỉ muốn phân tích các sự kiện dựa theo những nguyên tắc của khoa sử học (Roger Aubert); một bên (Hubert Jedin) đòi hỏi phải phán đoán các dữ kiện dưới viễn tượng của đức tin, nghĩa là môn giáo sử là một ngành của thần học, tuy không được phép đồng hóa với môn hộ giáo (apologetica) hoặc thánh tích (hagiographia). Thật không đơn giản, bởi vì chủ động của lịch sử không chỉ là những con người với những giới hạn tự nhiên, mà còn là Thánh Linh nữa. Mặt khác, không phải tất cả những gì xảy ra trong lịch sử của Hội thánh đều là “thánh thiện”! Như chúng ta đã biết lịch sử không phải chỉ là môn học ghi lại các sự kiện nhưng còn phân tích các nguyên nhân và hậu quả của chúng. Nói khác đi, khoa lịch sử nào cũng hàm chứa một triết lý (hay thần học).
Lịch sử truyền giáo được phân làm 7 giai đoạn: 1/ ba thế kỷ đầu tiên; 2/ loan báo Tin mừng cho các dân tộc mới đến; 3/ loan báo Tin mừng cho Châu Âu; 4/ Thập tự quân (tk XI-XII); 5/ Châu Mỹ (tk XV); 6/ Châu Á; 7/ Châu Phi.
1/ Ba thế kỷ đầu tiên: công cuộc truyền giáo của các tín hữu thường dân
Tin mừng được loan báo trong lãnh thổ của Đế quốc Rôma và thậm chí vượt ra ngoài biên cương (Mesopotamia, Persia, Armenia, Georgia, Ethiopia).
- Những yếu tố thuận lợi bên ngoài: hệ thống hành chánh và giao thông của đế quốc Rôma (pax romana), văn hóa Hy-lạp, sự phổ biến của đạo Do thái.
- Những yếu tố nội tại: vẻ hấp dẫn của sứ điệp Tin mừng, bảo vệ tự do lương tâm kể cả trước đe dọa của chính quyền
- Những nhân vật chủ động của công cuộc truyền giáo là chính các tín hữu, ý thức về sứ mạng của mình, qua những cuộc tiếp xúc trong đời sống thường nhật. Lá thư gửi Điônhêtô cho biết rằng sự hiện diện của các Kitô hữu trong thế giới ví được như vai trò của linh hồn trong thân xác. Từ cuối thế kỷ II, các giám mục mới điều khiển công tác truyền giáo.
2/ Loan báo Tin mừng cho các dân tộc germanic và slav.
Xưa nay các sử gia thường nói đến các dân “man di” tràn vào lãnh thổ Đế quốc Rôma, nhưng ngày nay, người ta nói đến các cuộc di dân, trong số đó không thiếu các dân đã theo đạo (chẳng hạn dân Gothi đã có hàng giáo phẩm, tuy nghiêng theo phái Ariô).
Đặc trưng của giai đoạn này (bắt đầu từ thế kỷ IV) là việc loan báo Tin mừng không chỉ nhắm đến cá nhân, nhưng còn nhắm đến các dân tộc. Người ta chứng kiến cuộc trở lại đạo của cả một dân tộc theo gương của nhà vua (thí dụ Clovis của dân Francs). Tôn giáo và chính trị trà trộn với nhau.
Nhân tố chủ động của hoạt động truyền giáo không còn là những cá nhân nhưng là Giáo hội, tuy chưa phải là Giáo hội trung ương tập quyền như vào những giai đoạn cận đại. Dù sao, Giáo hội xuất hiện như là một cơ chế.
3. Phong trào truyền giáo thứ nhất cho Châu Âu: các đan sĩ
Xem ra hơi mâu thuẫn: các đan sĩ là những người đi tìm thinh lặng nơi cô tịch, làm sao lại trở nên động lực cho phong trào truyền giáo? Xin thưa rằng có nhiều hình thái đan tu. Phong trào đan tu tại Bắc Âu không rút vào rừng vắng như thánh Biển đức, nhưng họ lấy việc lữ hành vì lòng mến Chúa (peregrinatio pro Dei amore) như phương tiện nên thánh. Nhờ vậy họ đã trở thành những người loan báo Tin mừng cho lục địa Châu Âu trong suốt bảy thế kỷ (V-XII): không những họ là động lực cổ võ văn hóa cho lục địa này, nhưng góp phần vào việc canh tân Giáo hội, với kỷ luật thống hối mới, với dây liên kết với Toà Rôma. Những khuôn mặt tiêu biểu: thánh Columba, thánh Augustinô Canterbury, thánh Bonifaxiô.
4. Thập tự quân (thế kỷ XI-XII): truyền giáo chống lại dân ngoại (contra gentes)
Thập tự quân là một phương pháp truyền giáo mới: truyền giáo bằng vũ lực, để chiếm lại đất thánh. Thật ra, tuy những cuộc thập tự quân được các giáo hoàng và vua chúa Kitô giáo đề xướng để chiếm lại đất thánh khỏi tay người Hồi giáo, nhưng không nên coi đường lối quân sự như là chính sách duy nhất của giai đoạn này. Cùng đi theo đoàn thập tự quân năm 1219, thánh Phanxicô Assisi đã sớm nhận ra rằng vũ lực không thích hợp với việc bành trướng nước Chúa, vì thế Người đã tìm đường lối hợp với Tin mừng: đó là loan báo và tử đạo. Dù sao, hoạt động truyền giáo được coi như một mục tiêu của hai dòng Đa Minh và Phan sinh. Để chuẩn bị cho công cuộc này, thánh Raymonđô Penafort OP mở trường học ngôn ngữ cũng như tôn giáo Islam. Raymondo Lullo, một giáo dân Dòng Ba Phanxicô, cũng mở lớp đào tạo các thừa sai theo hướng đó.
5. Truyền giảng Tin mừng cho Châu Mỹ Latinh
Với cuộc chinh phục Châu Mỹ Latinh, chúng ta thấy nảy ra một đường lối truyền giáo mới. Đế quốc Tây Ban Nha (và Bồ đào nha) được uỷ thác việc loan báo Tin mừng do chế độ “bảo trợ” (padronado): việc trở lại đạo mang tính cách cưỡng chế của chính quyền; đối lại, chính quyền cũng điều hành Giáo hội qua đặc ân bổ nhiệm các giám mục. Như chúng ta đã biết, song song với chính sách này, không thiếu những tu sĩ đã bênh vực quyền lợi của thổ dân, hoặc qua những khảo luận pháp lý (Bartolomé de las Casas, Francisco de Vitoria), hoặc qua những “ấp chiến lược” (reducciones của Dòng Tên ở Paraguay).
6. Truyền giảng Tin mừng cho người Á Đông
Trên nguyên tắc, Châu Á và Châu Phi được đặt dưới sự “bảo trợ” của Bồ đào nha, nhưng nước này không hăng say lắm với công cuộc truyền giáo. Điều này đã thúc đẩy Toà thánh thiết lập Bộ Truyền bá đức tin với hai vị Đại diện tông toà mà chúng ta đã biết. Như vậy Tòa thánh muốn giành lại phần chủ động trong công cuộc rao giảng Tin mừng. Xét về phương pháp truyền giáo, thì tại Á Châu, không có chuyện sử dụng vũ lực, nhưng ngược lại, chính các Kitô hữu đã trở thành nạn nhân của vũ lực: rất nhiều người đã bị nhà cầm quyền địa phương bắt bớ và giết: chúng ta đã quá biết lịch sử của các vị tử đạo tại Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên. Một khía cạnh mới của kế hoạch truyền giáo là thích nghi Tin mừng với văn hóa địa phương. Những nguyên tắc đã được đề ra trong Huấn thị của bộ Truyền giáo năm 1659. Thế nhưng khi đem ra áp dụng thì nhiều cuộc tranh cãi đã nảy lên giữa các thừa sai: thế nào là văn hóa, thế nào là mê tín dị đoan?
7. Truyền giảng Tin mừng tại Phi Châu
Châu Phi đã đón nhận Tin mừng ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo (các cộng đoàn Ai Cập, Ethiopia, Bắc Phi). Tuy nhiên, việc truyền giáo cho những vùng sâu vùng xa (ở mạn Nam) thì trở thành quy mô vào thế kỷ XIX, vào lúc mà lục địa này đã được chia xé giữa các nước thuộc địa (Thoả ước Berlin 1884-85). Phương pháp truyền giáo có những mặt trái và mặt phải của nó. Chính quyền thuộc địa chỉ chấp nhận những nhà thừa sai cùng quốc gia: đạo Công giáo xem ra liên kết với chính quyền thuộc địa. Đó là mặt trái, được nổi bật khi bùng nổ những cuộc chiến giành độc lập. Mặt phải là không thể phủ nhận công cuộc hy sinh của bao nhiêu vị thừa sai nam nữ để đem lại cho dân tộc Phi Châu không những là Tin mừng, mà còn sự nâng cao dân trí, sức khỏe (nhà thờ, nhà trường, nhà thương). Trong bối cảnh này, Giáo hội đã chứng kiến sự ra đời của rất nhiều dòng tu nam nữ được thành lập để đi truyền giáo, cũng như những hội dòng nam nữ dành cho những người địa phương muốn dâng mình cho Chúa. Việc đối thoại văn hóa không được đặt ra, bởi vì con người Châu Phi được đồng hóa với dân mọi rợ cần học hỏi văn minh Tây phương. Nhưng có lẽ chính nhờ văn hóa thô sơ mà tỉ lệ người Phi châu trở lại đạo Kitô cao hơn là người Á Châu.
Trong phần kết luận, tác giả nhấn mạnh rằng trải qua hai ngàn năm lịch sử, đã có nhiều đợt loan báo Tin mừng cũng như nhiều cách thức loan báo Tin mừng, tùy theo thời thế. Ngoài ra, đôi khi trong cùng một thời đại nhiều phương thức khác nhau và tương phản nhau cùng được áp dụng. Một thí dụ: vào thế kỷ XIX, tại Phi Châu, bên cạnh những thừa sai hăng say giảng đạo, lập nhà thờ nhà thương, thì có một anh Charles de Foucauld truyền giáo bằng sự hiện diện thầm lặng.
Kết luận
Trong phần thứ hai, chúng tôi đã trưng dẫn hai tác giả để cho thấy hai lối nhìn về cái “mới” trong cách thức loan báo Tin mừng.
Cha Raniero Cantalamessa trình bày bốn đợt loan truyền Tin mừng: ta có thể nói đến bốn cái “mới”, dựa trên những người đón nhận (các dân Hy-lạp Rôma, các dân man-di, Châu Mỹ Latinh, Châu Âu tục hóa) và những chủ động (tín hữu, đan sĩ, tu sĩ, giáo dân). Đàng sau các đợt sóng mới là đức tin và cầu nguyện.
Cha Mario Menin phân chia lịch sử truyền giáo làm bảy giai đoạn xét theo biên cương, với sự thay đổi về phương pháp: việc loan báo Tin mừng cùng đi với những chứng ta thường nhật, hoặc truyền bá văn hóa, hoặc thăng tiến nhân bản, và cũng có lúc dùng lại quyền lực.
Dĩ nhiên là chúng ta còn thể liệt kê nhiều cách thức phân chia khác. Chẳng hạn như xét về cơ quan điều phối: từ những sáng kiến tự phát vào lúc đầu, tiến tới việc điều động của các giám mục, rồi đến sự tiếp tay của thế quyền, và rồi vào những thế kỷ gần đây, sự điều động của Tòa Thánh (Bộ Truyền giáo).
Tuy nhiên, xin phép được ghi nhận ba cảm tưởng để kết thúc.
1/ Khi nói đến việc “loan báo Tin mừng”, các tác giả hiểu về việc “truyền giáo”, nghĩa là giảng đạo cho những dân ngoại đạo. Tuy nhiên, tông huấn Evangelii nuntiandi hiểu từ ngữ evangelizatio theo nghĩa rộng hơn, bao gồm cả việc loan báo Tin mừng cho cả bên trong nội bộ của Giáo hội nữa. Lịch sử Giáo hội là một chuỗi những cuộc canh cải: ecclesia semper reformanda est. Công đồng Vaticanô II cũng nằm trong kế hoạch “trở về nguồn”, nghĩa là trở về với Tin mừng. Cái gì tạo ra những cuộc canh tân cải hoán ấy? Chúng ta sẽ trở lại câu hỏi này trong giây lát. Dù sao, chúng ta có thể nên ghi nhận ảnh hưởng hỗ tương giữa hai hướng: động lực canh tân nội bộ Giáo hội cũng giúp đẩy mạnh công cuộc truyền giáo. Một thí dụ: vào thế kỷ XVII bên Pháp, cũng một tinh thần đã thúc đẩy đi giảng đạo cho các giáo xứ (mission populaire) và đi giảng đạo cho các vùng xa xăm (mission étrangère), đưa đến việc thiết lập hai Hội dòng: Congrégation de la Mission của thánh Vinhsơn Phaolô, và Société des Missions Étrangères de Paris.
2/ Khi bàn về việc “truyền đạo cho dân ngoại”, các tác giả xem ra chỉ nhìn đến những công cuộc của Giáo hội Công giáo, và bỏ qua sự đóng góp của các Giáo hội khác. Như đã nói ở đầu, các từ evangelization, evangelism phát sinh từ các hệ phái Tin lành cuối thế kỷ XIX. Cách riêng khi bàn về việc truyền giáo tại Á Châu, chúng ta không thể làm ngơ những nỗ lực của các Giáo hội Tin lành (thuộc nhiều hệ phái), kể từ thế kỷ XIX, tại Trung Hoa, Triều Tiên (nơi mà số tín hữu Tin lành cao hơn số người Công giáo). Ngoài ra cũng nên biết rằng các giáo sĩ Nestoriô đã mang Tin mừng đến Trung quốc ngay từ thế kỷ VIII. Về những đợt loan báo Tin mừng tại Châu Á, có thể đọc bài viết của cha Felipe Gomez, Two Thousand Years of The Church’s Mission in Asia: Waves of Evangelization, Holiness, and Martyrdom[13].
3/ Dù phân chia các “đợt loan báo Tin mừng” theo tiêu chuẩn nào đi nữa, chúng ta thấy rằng những đợt sóng mới không phát xuất từ một kế hoạch đã dự trù. Ai xui quân man di tiến vào lãnh thổ Rôma? Ai xúi ông Mahomét lập đạo Islam và chiếm cứ miền thánh địa?
Nói cách khác, những hoàn cảnh mới không hoàn toàn xuất phát từ Giáo hội, nhưng chúng thường xảy đến từ những nhân tố bên ngoài Giáo hội. Tuy nhiên, nhìn dưới con mắt đức tin thì những biến cố ấy cũng nằm trong kế hoạch của Chúa Thánh Thần, vị chủ động chính yếu của cuộc truyền bá Tin mừng[14]. Thánh Luca đã nhận thấy điều đó khi viết sách Tông đồ công vụ: nhờ cuộc bách hại của ông Saulô ở Giêrusalem, mà các tín hữu mới chạy tản mác xuống Samaria và giảng đạo ở vùng này (Cv 8,1; 11, 19-21). Ông Phaolô đến Rôma không do phương tiện riêng tư, nhưng là trong tư cách của một tù nhân. Những chuyện tương tự không thiếu lần đã tái diễn trong lịch sử Hội thánh: có những biến cố thoạt tiên là mất mát, nhưng xét về lâu về dài lại là động lực thuận lợi để Hội thánh sống trung thành với Tin mừng hơn, hoặc tìm phương hướng mới để loan báo Tin mừng. Một câu chuyện mà ai cũng biết là Tòa Thánh đã bị nước Ý cướp đất năm 1870, nhưng về sau thì các giáo hoàng nhận ra rằng nhờ vậy mà uy tín của vị lãnh đạo Giáo hội tăng thêm, bởi vì ngài xuất hiện như một lãnh tụ tinh thần chứ không như quốc vương. Những lần mà Giáo hội bị bóc lột về lợi lộc vật chất là cơ hội để làm sáng tỏ hơn sứ mạng thiêng liêng của mình[15]. Một đề tài khác, Giáo hội đã phát triển học thuyết xã hội khi đối đầu với phong trào tranh đấu của Cộng sản vào cuối thế kỷ XIX, như chính sách Giáo lý Hội thánh Công giáo đã nhìn nhận[16]. Từ chỗ ôn lại lịch sử Giáo hội hoàn cầu, tôi xin mạn phép gợi lên vài biến cố của lịch sử Giáo hội Việt Nam trong thế kỷ XX để quý vị suy nghĩ: biến cố 1954 và 1975. Nhiều người vẫn coi đó là hai ngày quốc hận. Đó là cái nhìn của nhà chính trị. Nếu chúng ta biết dùng cặp mắt của tác giả sách Tông đồ công vụ thì phải nói đó là hai cái đà để đẩy mạnh sứ mạng loan truyền Tin mừng của Giáo hội Việt Nam.
Vào năm 1954, Giáo hội VN có 16 giáo phận với số giáo dân khỏang 1.900.000. Dựa theo sách Việt Nam giáo sử của cha Bùi đức Sinh[17], trước cuộc di cư, từ vĩ tuyến 17 ra Bắc khỏang 1.380.000 người; từ vĩ tuyến 17 trở vào khỏang 520.000 người. Sau cuộc di cư, số giáo dân miền Bắc chỉ còn khỏang 730.000, ở miền Nam tăng lên khỏang 1.170.000. Cuộc di cư đã làm đảo lộn tỷ lệ dân công giáo: trước di cư thì 71,4% ở Bắc, sau di cư thì 77,7% ở Nam. Dĩ nhiên là nếu con số giáo dân ở miền Nam tăng, thì miền Bắc bị giảm. Cũng như tất cả mọi biến cố trên đời này, cuộc di cư năm 1954 có những mặt phải và mặt trái của nó. Chúng ta hãy thử nêu ra vài điểm của mặt phải thôi.
- Tại miền Bắc, các thừa sai ngoại quốc bị trục xuất. Vì thế Tòa thánh bắt đầu phải “Việt Nam hóa” hàng giáo phẩm. Nên biết là cho đến năm 1954, các giáo phận Thái bình, Lạng sơn, Thanh hóa, Hưng hóa còn do các giám mục Pháp và Tây-ban-nha điều khiển (Đi lùi lại một chút: Hà nội và Bắc Ninh cho đến năm 1950, Hải phòng năm 1953). Đến năm 1960 thì toàn thể giáo tỉnh Hà-nội đều do các giám mục VN cai quản.
- Tại miền Nam, sự hình thành các giáo phận: Long xuyên, Đà-lạt, Xuân lộc, Ban-mê-Thuột, Phan thiết, đa số gồm bởi những giáo xứ di cư. Nên biết là cho đến năm 1954, tòan thể Nam kỳ (Cochinchine) chỉ có 2 giáo phận rưỡi: Saigon (chạy tới Đàlạt, Tây ninh, xuống Bà-rịa Vũng tàu), Vĩnh Long, Nam vang bao gồm một phần đất của Cao-miên (Vì thế mà nói rằng “rưỡi”, bởi vì mãi đến năm 1955, phần lãnh thổ Việt nam mới được tách ra làm địa phận Cần thơ). Cùng với các giáo dân và xứ đạo, nhiều Dòng tu cũng mở cơ sở ở miền Nam. Như vậy cuộc di cư 1954 là một đợt loan báo Tin mừng “mới” trong lịch sử Hội thánh Việt Nam.
Trong những hậu quả của biến cố 1975 kèm theo hiện tượng vượt biên, các tín hữu Việt Nam đã có mặt trên nhiều quốc gia trên thế giới, một sự hiện diện đôi khi là hồn sống cho Giáo hội địa phương ở Âu Mỹ Úc. Ở đây tôi chỉ muốn nói mặt phải chứ không nói mặt trái.
Ôn lại quá khứ để sống hiện tại. Liệu chúng ta có nhận ra tiếng nói của Thánh Linh giữa những biến cố hôm nay, tiếng nói mời gọi chúng ta tham gia vào việc loan truyền Tin mừng cách mới mẻ, đứng trước thánh đố mới và thời cơ mới, dĩ nhiên là với tinh thần mới, nhiệt khí mới?
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP
Lịch sử truyền giáo. Thư mục tổng quát
* Tác giả Tin Lành
- K. S. Latourette, A History of the Expansion of Christianity, 7 voll., New York 1937-1945.
- S. Neill, A History of Christian Missions, Penguin, Harmondsworth 1964.
- D. J. Bosch, Transforming Mission: Paradigm Shifts in Theology of Mission,Orbis Books New York 1991.
* Tác giả Công giáo
- S. Delacroix (dir.), Histoire universelle des Missions Catholiques, 4 voll., Editions de Grund, Paris 1956-1959.
- J. Comby, Deux mille ans d’évangélisation, Desclée, Paris 1992.
- A. Doneda, Chiesa in cammino. 2000 anni di storia della missione, EMI Bologna 1993.
Lm. Phan Tấn Thành, OP.
[1]Rafael Ortega, Evangelizar segn el Evangelio. Comentario biblico a los nn. 6-16 de la "Evangelii nuntiandi. in: “Medellin” 3(1977) 222-231. El contenido de la Evangelizaciịn. Comentario a los nn. 25-39, ibid, 453-475.
[2]Euaggelizomai (euaggelizesthai): 54 lần trong TƯ (Mt 1; Lc 10; Cv 15; Rm 3; 1 Cr 6; 2 Cr 2; Gl 7; 1 Tx 1; Dt 2; 1 Pr 3; Kh 2). - euaggelion: 76 lần trong TƯ (Mt 4; Mc 8; Cv 2; Rm 9; 1 Cr 8; 2 Cr 8; Gl 7; Ep 4; Pl 9; Cl 2; 1 Tx 6; 2 Tx 2; 1 Tm 1; 2 Tm 3; Plm 1; 1 Pr 1; Cv 1). - euangelistes 3 lần (Cv 21,8; Ep 4,11; 2 Tm 4,5).
[3]J. Lopez Gay, Evolución historica del concepto de "Evangelización", in: Evangelisation (Documenta Missionalia n. 9), Roma 1975, p.161-190. Cf. Alexander Duff (1806-1878): “The chief means of Divine appointment, for the evangelization of the world are the faithful teaching and preaching of the pure Gospel of salvation by duly qualified ministers and other holy and consistent disciple of the Lord Jesus Christ, accompanied with prayer and savingly applied by the grace of the Holy Spirit” (Union Missionary Convention New York, 1854).
[4]D. Grasso, Evangelizzazione. Senso di un termine, in: Evangelisation, l.c. p.21-47.
[5]Các văn kiện khác: Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân Apostolicam Actuositatem (4 lần: số 2; 6; 19; 26). Sắc lệnh về tác vụ linh mục Presbyterorum Ordinis (3 lần: số 5; 6; 19). Hiến chế về Hội Thánh Lumen gentium (1 lần: số 35). Sắc lệnh Christus Dominus (1 lần: số 6); Hiến chế về Hội Thánh trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes (1 lần: số 44).
[6]Bản lược thảo (Lineamenta) đã cho biết từ ngữ evangelizatio có thể hiểu theo bốn nghĩa: 1) Nghĩa rộng: bất cứ công tác nào nhằm làm cho thế giới trở nên phù hợp với chương trình của Thiên Chúa, dù là lao động trong xưởng, dạy chữ. 2) Nghĩa hẹp hơn: việc thi hành các hoạt động ngôn sứ, tư tế và vương đế nhằm xây dựng Hội Thánh theo ý định của Chúa Kitô. Hiểu như vậy, nó đồng nghĩa với sứ mạng của Hội Thánh (khác với hoạt động của các tổ chức hoặc xã hội trần thế). 3) Nghĩa chặt: những hoạt động nhằm nhằm giúp các người ngoại nhận biết Chúa cũng như giúp các tín hữu sống đức tin. Như vậy giới hạn vào việc thi hành công tác ngôn sứ (rao giảng Tin Mừng, dạy giáo lý, giảng thuyết, v.v). 4) Nghĩa chuyên môn: việc rao giảng Tin Mừng cho những người chưa biết Chúa.
[7]Thực ra, tông huấn phân biệt ba môi trường của evangelizatio: (i) Loan báo Tin Mừng cho người ngoại đạo (số 50, 51, 53), tức là truyền giáo; (ii) Mục vụ (số 54), chú trọng đến việc huấn giáo; c) Loan báo canh tân (số 52, 56), dành cho những nơi đã mất đạo, hoặc không thực hành đạo.
[8]N. 15: “Ut res breviter explicemus, Ecclesia semper evangelizanda est, ut suam in Evangelio nuntiando viriditatem, ardorem, vim servare possit. Concilium Oecumenicum Vaticanum II commemoravit atque Episcoporum Synodus anno MCMLXXIV firmiter resumpsit hoc argumentum de Ecclesia, per suam non intermissam conversionem et renovationem, se ipsam evangelizante, ut credibili ratione valeat mundum evangelizare”.
[9]Nên ghi nhận rằng anh em Tin lành (Protestantism) vẫn tiếp tục dùng danh từ Mission khi nói về truyền giáo. Xc. Đại Hội Edinburgh “World Missionary Conference” (2-6/2010), trừ nhóm Evangelicals cũng tổ chức một Đại Hội song song “Congress on World Evangelization” ở Cape Town (16-25 October 2010).
[10]Vào bốn ngày thứ sáu: 2/12; 9/12; 14/12; 23/12. Có thể đọc trên website của tác giả: www.cantalamessa.org/
[11]Tác phẩm căn bản: Adolph Harnack,Missione ed espansione del cristianesimo nei primi tre secoli nguyên tác tiếng Đức xuất bản năm 1902.
[12]www.sedos.org/site/index.php?option=com_docman&task=doc_view&gid=1495&Itemid=59〈=en[13]In: East Asian Pastoral Review, vol. 47 (2010), trên mạng: http: // eapi.admu.edu.ph/content/two-thousand-years-church%E2%80%99s-mission-asia-waves-evangelization-holiness-and-martyrdom
[14]Đức Phaolô VI, tông huấn Evangelii nuntiandi số 74-75; Đức Gioan Phaolô II, thông điệp Redemptoris missio số 21-29.
[15]Xem bài diễn văn của đức Bênêđictô XVI dành các đại diện của Giáo hội Đức tại Freiburg, ngày 25/9/2011.
[16] Xem sách Giáo lý Hội thánh Công giáo số 2421: “Giáo huấn xã hội của Hội thánh được triển khai vào thế kỷ thứ XIX khi Tin mừng tiếp xúc với xã hội kỹ nghệ cơ khí hiện đại, với những cơ cấu mới của nó để sản xuất các sản phẩm tiêu thụ, với quan niệm mới của nó về xã hội, về quốc gia và quyền bính, với các hình thức mới của nó về lao động và quyền sở hữu. Sự triển khai giáo huấn của Hội thánh về vấn đề kinh tế và xã hội chứng tỏ giá trị trường tồn của giáo huấn Hội thánh, đồng thời cho thấy ý nghĩa đích thực của Truyền thống luôn sống động và tích cực của Hội thánh”.
[17]Bùi đức Sinh, Giáo hội Công giáo ở Việt Nam, in lần hai, quyển Ba, Calgary 1998, tr.214
ĐỀ TÀI 2: LOAN BÁO TIN MỪNG CÁCH MỚI MẺ
(Tân Phúc Âm hóa) DƯỚI CHIỀU KÍCH: GIÁO HỘI NHƯ LÀ DÂN THIÊN CHÚA
Loan báo Tin Mừng: một nhu cầu cấp bách của Giáo Hội trong thời đại hôm nay
Ước muốn sửa chữa lại tính cách phiếm diện của hình ảnh Giáo Hội trong suốt 400 năm qua, Công đồng Vatican II đã trình bày một Giáo Hội tồn tại trong hai khía cạnh, một đàng Công đồng tiếp tục củng cố qui hướng Giáo Hội về nguồn gốc Thánh Kinh và Tông truyền của mình và đàng khác Công đồng không quên nhấn mạnh đến tính chất hiện thực của Giáo Hội trong một thế giới trần thế. Công đồng đã cố gắng làm sáng tỏ căn tính của Giáo Hội như là “Dân Chúa” lữ hành. Trên con đường lữ hành này, Giáo Hội phải nỗ lực chu tất sứ vụ của mình như là “bí tích cứu độ phổ quát” (LG 9), có nghĩa là Giáo Hội phải làm thế nào để qui tụ mọi người vào trong Vương quốc của Thiên Chúa Cha. Chỉ khi nào Giáo Hội đồng nhất với toàn thể nhân loại đã được hòa giải, Giáo Hội mới thực sự tìm thấy căn tính trọn hảo của mình, tức Giáo Hội phổ quát” (ecclesia universalis).
Vì vậy, Công đồng đã nhấn mạnh đến bổn phận của Gáo Hội là phảiqui tụ vào chính mình “tất cả những ai trọn niềm tin kính tìm đến Đức Kitô là tác giả của ơn cứu rỗi và là nguồn mạch sự hợp nhất và bình an” (LG 9), để nhờ đó họ được dự phần sự sống trong Vương quốc của Thiên Chúa. Bổn phận này bắt nguồn từ sứ vụ mà Chúa Kitô trao cho Giáo Hội. Thật vậy, Chúa đã sai Giáo Hội đi vào thế giới như ánh sáng cho trần gian và như muối cho đời (x. Mt 5,13-16), để qua Giáo Hội Chúa cứu chuộc nhân loại, làm cho họ trở thành con Thiên Chúa, thành công dân Nước Trời. Vì thế, Giáo Hội ở trong Đức Kitô như là bí tích, có nghĩa là dấu chỉ và khí cụ cho sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa cũng như cho sự hợp nhất toàn thể nhân loại” (LG 1; x. LG 9).
Công đồng Vatican II đã minh định: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành là người được sai đi” (AG2). Vâng, Giáo Hội được sai đi để mang ơn cứu độ đến cho hết mọi dân tộc, để tất cả mọi người được nên một với nhau trong “Vương quốc Thiên Chúa”. Sứ vụ đó không gì khác chính là loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Suốt chiều dài lịch sử của mình, Giáo Hội luôn ý thức về nhiệm vụ này và đã không ngơi nghỉ cất bước trên mọi nẻo đường, vượt nhiều gian khổ, tìm nhiều cách thế, để Tin Mừng được loan báo đến khắp mọi nơi trên thế giới. Sự kiện Công đồng Vatican II được khai mở là bằng chứng hùng hồn nói lên thao thức của Giáo Hội về nhiệm vụ loan báo này. Công đồng đã chỉ ra con đường mang Tin Mừng đến cho nhân loại với nhiều chỉ dẫn mới mẻ mang tính thời sự qua các Hiến chế và Sắc lệnh. Công đồng kết thúc trong niềm hân hoan với hy vọng lớn lao: Giáo Hội sẽ không còn được nhìn tới như thành lũy kiên cố lạc lõng giữa thế gian, nhưng sẽ là con đường “hiệp thông của niềm hy vọng”, con đường nàynằm ngay trong đại gia đình nhân loại. Chính trong con đường này các Kitô hữu làm cho nhân loại tìm thấy niềm vui nơi Giáo Hội mãnh liệt hơn cái đau khổ họ đang chịu.[1]
Thế nhưng, 50 năm trôi qua, kể từ ngày Công đồng Vatican II được khai mạc cho đến nay, xem ra con đường hy vọng này như đang gặp vấn đề nan giải, được gọi là khủng hoảng đức tin, trước tiên Giáo Hội đang đối diện với khủng hoảng của một cuộc đào thoát khỏi đức tin công giáo, đặc biệt nơi các Giáo Hội Châu Âu và Mỹ Châu La Tinh, kế đến con số những người chưa biết Chúa Kitô vẫn cao ngất ngưỡng? Có thể nói trên 80% nhân loại không phải là Kitô hữu. Đâu là nguyên nhân của vấn đề? Con người ngày nay đang đối diện với cám dỗ gạt bỏ Thiên Chúa rất mạnh. Với sự phát minh khoa học, kỹ thuật và mức sống trở nên sung túc làm cho người ta xác tín rằng họ có thể tự tay làm được mọi chuyện mà không cần đến Thiên Chúa, điều đó được coi như lý do khách quan của vấn nạn khủng hoảng đức tin. Tuy nhiên, lý do chủ quan bắt nguồn từ chính trong lòng Giáo Hội được coi như nguyên nhân chính của cuộc khủng hoàng này: trong Giáo Hội người ta chỉ lo tìm cớ xào xáo nhau vì những chuyện riêng tư thuộc đời sống Giáo Hội, không chú tâm đến chuyện làm thế nào để diễn tả niềm tin của mình cho thế giới sao cho phù hợp với não trạng thời đại hôm nay, và có thể nói gì với họ để họ có thể lắng nghe và dễ dàng đón nhận. Vì thế, các cuộc tranh luận trong Giáo Hội hôm nay người ta càng ngày càng ít đề cập đến nội dung đức tin, đến những đòi hỏi của đời sống đức tin,[2]để rồi từ đó đưa tới hệ luận: người rao giảng thiếu tin tưởng vào sức mạnh của Tin Mừng, và người nghe thiếu tin tưởng vào những người rao giảng Tin Mừng[3].
Đứng trước thách đố này, Đại hội thường kỳ lần thứ XIII Thượng Hội đồng Giám mục - sẽ được tổ chức tại Vatican từ ngày 7 đến 28 tháng 10 năm 2012, đã lấy chủ đề “Loan báo Tin Mừng cách mới mẻ để truyền bá đức tin Kitô”. Qua bản Lineamenta, chúng ta đọc được mục đích của Thượng Hội Đồng là nỗ lực thực hiện việc canh tân Giáo Hội “để đáp ứng những thách thức mà xã hội và các nền văn hoá hôm nay, qua các thay đổi quan trọng của chúng, đang đặt ra cho đức tin Kitô giáo, cho việc loan báo và làm chứng đức tin ấy. Đối diện với những thách thức này, Hội Thánh không đầu hàng hay thu mình; ngược lại, Hội Thánh thực hiện một kế hoạch tái tạo sinh lực cho mình. Hội Thánh đặt Con Người Chúa Giêsu Kitô và sự gặp gỡ với Người vào tâm điểm suy tư của mình, vì biết rằng Người sẽ ban Thánh Thần của Người và cống hiến sức mạnh để loan báo và rao giảng Tin Mừng bằng những cách mới mẻ để có thể nói với các nền văn hoá hôm nay”[4], và nhắc nhớ cho mọi Kitô hữu “không bao giờ được từ bỏ sự bạo dạn trong việc loan báo Tin Mừng và tìm kiếm mọi phương thức tích cực để mở ra những con đường đối thoại, ở đó chúng ta có thể thảo luận về những mong đợi thâm sâu nhất của con người và lòng khát khao Thiên Chúa của họ. Sự bạo dạn này cho phép chúng ta đặt đúng bối cảnh vấn đề về Thiên Chúa qua việc chia sẻ những kinh nghiệm cá nhân của mỗi người trong việc tìm kiếm Thiên Chúa và kể lại ân huệ được ban nhưng không trong cuộc gặp gỡ cá nhân với Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô”[5].
LOAN BÁO TIN MỪNG CÁCH MỚI MẺ KHỞI SỰ TỪ KHÁI NIỆM GIÁO HỘI NHƯ LÀ DÂN THIÊN CHÚA
Nói đến loan báo Tin Mừng cách mới mẻ, thì cũng được hiểu Giáo Hội là cộng đoàn được Tin Mừng hóa. Thật vậy, việc loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu được tiếp tục bởi một cộng đoàn bao gồm những con người hoán cải do Tin Mừng. Cộng đoàn này đã lắng nghe Tin Mừng từ lời loan báo của các Tông đồ, đã để Lời Chúa biến đổi trở thành những con người mới. Nhũng con người trong cộng đoàn này liên kết với nhau bằng mối dây đức tin và đức ái. Họ hiệp thông với nhau qua việc cùng nhau cầu nguyện, lắng nghe lời giảng dạy của các Tông đồ, cùng nhau cử hành nghi lễ bẻ bánh, thi hành việc bác ái (Tđcv 2,42-46). Tuy nhiên cộng đoàn hoán cải bởi Tin Mừng này “chỉ thực sự mang trọn ý nghĩa khi cộng đoàn trở thành chứng tá, khơi dậy lòng thán phục và sự trở lại thành lời loan báo Tin Mừng”[6]. Từ việc được Tin Mừng hóa, Giáo Hội tiếp tục thực thi điều đã làm nên chính mình, tức là loan báo Tin Mừng cho những con người đang sống ngoài Giáo Hội. Vì vậy, đối với Giáo Hội, Tin Mừng hóa là đem Tin Mừng vào trong mọi cảnh vực nhân loại và nhờ sự tiếp xúc này làm thay đổi tự bên trong, đổi mới chính nhân loại: ‘Này đây Ta tạo dựng một vũ trụ mới, (Kh 21,5). Nhưng không có nhân loại mới, nếu trước tiên không có con người mới, không có sự sống mới nhờ phép Rửa tội (Rm 6,4) và do đời sống theo Tin Mừng (Ep 4,23-24). Vậy mục đích của việc Tin Mừng hóa chính là sự thay đổi nội tâm đó, và nếu phải diễn tả một cách vắn tắt, thì ta có thể nói một cách đúng đắn rằng Giáo Hội Tin Mừng hóa, chỉ khi nhờ sức mạnh thần linh của sứ điệp mà Giáo Hội công bố (Rm 1,16), Giáo Hội tìm cách hoán cải cùng lúc lương tâm cá nhân và tập thể của con người, hoán cải sinh hoạt mà con người đang dấn thân, hoán cải đời sống và hoàn cảnh cụ thể của họ”[7].
Như vậy, việc loan báo Tin Mừng cách mới mẻ, không là nhằm thay đổi căn tính của Giáo Hội, nhưng là làm sống dậy tính năng động nơi Giáo Hội, một cộng đoàn được Tin Mừng biến đổi để trở thành men, thành muối cho đời. Vì là men, là muối, Giáo Hội luôn mang trong mình một nội lực nhận lãnh từ Thánh Thần để tiếp tục biến đổi sao cho phù hợp với sự phát triển không ngừng của thế giới về mọi lãnh vực khoa học kỹ thuật cũng như xã hội nhân văn. Là men cho đời Giáo Hội luôn làm cho khối bột trần thế ở bất cứ thời đại nào, đều có thể được dậy men Tin Mừng. Qua việc dậy men, con người được biến đổi và được tháp nhập vào cộng đoàn cứu độ được gọi là Dân Thiên Chúa. Ý thức về sứ vụ của mình, Giáo Hội tại Việt Nam cũng đã minh định qua thư chung của Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010: “thay vì coi truyền giáo chỉ như một trong những hoạt động của Giáo Hội, thì nay cần nhìn sứ mệnh truyền giáo như nắm men thấm nhập, khơi dậy và chi phối mọi khía cạnh đời sống Giáo Hội. Do đó, cần dành mọi nỗ lực và hoạt động, từ vật chất đến thiêng liêng và mục vụ, cho mục tiêu này”[8].
1- Như là Dân Thiên Chúa, Giáo Hội là một cộng đoàn đức tin và đức mến
a- Giáo Hội – Cộng đoàn đức tin: Giáo Hội là một cộng đoàn được Thiên Chúa qui tụ bao gồm những người tin vào Chúa Kitô cũng có nghĩa là tin vào kế hoạch cứu chuộc của Thiên Chúa. Và được coi như là thừa kế của cuộc tụ họp Dân Chúa trong Cựu Ước[9]. Quả thật, Giáo Hội xuất hiện và tồn tại như một cộng đoàn tương quan với nhau qua cùng một đức tin vào Thiên Chúa, là những người được chính Chúa Thánh Thần thúc đẩy, hướng dẫn để có thể nhận biết Thiên Chúa. Chỉ trong Chúa Thánh Thần, Đức Giêsu Kitô được mặc khải cho biết Người chính là Con Thiên Chúa, được Thiên Chúa Cha gởi đến trần gian, Người đã hiến dâng mạng sống của mình, đã sống lại và được đưa lên cao để mang lại sự sống cho nhân loại, đó là khởi điểm của đức tin kiến tạo nên nguồn gốc của Giáo Hội.
Vì là do Thiên Chúa qui tụ, cộng đoàn đức tin này vượt lên trên mọi tổ chức chính trị, không bị lệ thuộc vào bất cứ một chi phối nào của bất cứ tổ chức trần thế nào. Giáo Hội được thừa kế sự tự do của “người con” nơi Đức Kitô, vì vậy Giáo Hội “không bao giờ xuất hiện như một phụ nữ nô lệ, sinh con ra để làm nô lệ. Giáo Hội là một phụ nữ tự do, là Hiền thê của Đức Kitô, Đấng là vị Cứu tinh, là sự tự do nhập thể…. Giáo Hội bao giờ cũng phải là một cộng đoàn của những người được giải thoát đang dấn thân giải thoát mọi người, nhằm đáp lại ước mong của toàn tạo thành, mong được tham dự vào sự tự do của con cái Thiên Chúa”[10].
Vì được dự phần vào sự tự do của chức phận làm con, mọi Kitô hữu có sự bình đẳng thực sự, bình đẳng về phương diện phẩm giá và hoạt động chung của mọi tín hữu để xây dựng thân thể Chúa Kitô, Công đồng Vatican II đã minh định: “chỉ có một đoàn dân ưu tuyển của Thiên Chúa: ‘Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa’ (Ep 4,5); cùng chung một phẩm giá giữa các chi thể do được tái sinh trong Đức Kitô, cùng chung một ơn là con cái Thiên Chúa và cùng chung một ơn gọi hướng tới sự hoàn thiện; chỉ có một ơn cứu độ, một niềm hy vọng và một đức ái không phân chia. Như thế, trong Đức Kitô và trong Giáo Hội, không có sự bất bình đẳng do chủng tộc hay quốc gia, do địa vị xã hội hoặc phái tính, bởi lẽ ‘không còn phân biệt Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô’. (Gl 3,28: bản Hy Lạp; x. Cl 3,11)” (LG, 32). Vì vậy,“Người tín hữu không chỉ có đặc sủng vâng lời, nhưng còn có các đặc sủng của hồng ân Thánh Thần làm cho họ có khả năng đóng một vai trò tích cực vừa là chứng nhân trong thế giới, vừa thể hiện vai trò đó trong chính cộng đoàn, mà nếu không có sự đóng góp của người tín hữu thì các chủ chăn không thể thi hành phận vụ mình cách thích đáng được”[11]. Ngoài ra Công đồng cũng đã nhấn mạnh đến đặc sủng không sai lầm: “Toàn thể tín hữu được Chúa Thánh thần xức dầu (x. 1 Ga 2,20 và 27) không thể sai lầm trong đức tin. Họ biểu lộ đặc tính ấy nhờ cảm thức siêu nghiệm về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi ‘từ các Giám mục cho đến người giáo dân rốt hết’[12] đều đồng ý về những điều liên quan đến đức tin và phong hóa” (LG 12).
Tuy nhiên, trong sự bình đẳng đó, Chúa Thánh Thần cũng mang lại những đoàn sủng khác nhauvà đa dạng trong Giáo Hội. Chúa Thánh Thần phân phát các ân sủng đặc biệt của Người cho mọi cấp bậc các tín hữu qua những cách thế khác nhau tùy theo ý của Người, “khiến người nhận lãnh các đặc sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau nhằm mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo Hội” (LG 12). Trong khuôn khổ khác nhau của đoàn sủng, Công đồng đã nhấn mạnh đến sự phân biệt về “Ân huệ khác nhau theo đoàn sủng và phẩm trật” (LG 4).Trước tiên đoàn sủng đó được ám chỉ tới “nhiệm vụ” hay “chức vụ” (ministeria) được trao ban qua Bí tích truyền chức thánh nhằm phục vụ cho sự hợp nhất Dân Chúa trong phương thế đặc biệt qua việc “giảng dạy, thánh hoá và cai quản” (LG 32; x. LG 4, 7, 12, 18, 20, v.v….) đó chính là nhiệm vụ của giám mục, linh mục và thầy phó tế. Qua các ngài, Chúa Kitô thể hiện quyền bính của Người như là Đầu của thân thể hữu hình (LG 7, 10, 32; PO 2, 6). Nhiệm vụ nhân lãnh từ Bí tích Truyền chức không chỉ là đoàn sủng như bao đoàn sủng khác, nhưng nó còn là đoàn sủng riêng biệt đứng đối diện với cộng đoàn nhằm phục vụ cho sự hiệp nhất của cộng đoàn. Hành động của nhiệm vụ Thánh chức được thực thi “in persona Christi capitis”, thay mặt Chúa Kitô là đầu (PO 2; LG 10), tức là qua các cách thế dấu chỉ bí tích trình bày hoạt động của Đầu, Đức Giêsu Kitô, trong Giáo Hội và cho Giáo Hội.
Như vậy, cộng đoàn đức tin hình thành hai mối tương giao: tương giao bình đẳng giữa các Kitô hữu qua bí tích Rửa tội, tương giao hiệp thông phẩm trật qua bí tích Truyền chức thánh. Hai mối tương giao này kiến tạo nên cấu trúc bí tích nơi Giáo Hội. Đây cũng là vấn đề mà Giáo Hội luôn đối diện, vì ngay chính trong nội bộ Giáo Hội đã thường xuất hiện những cơn sóng tạo ra sự căng thẳng trong mối tương quan giữa giáo sĩ với nhau và với giáo dân phát xuất từ cấu trúc này, làm cản trở cho việc loan báo Tin Mừng. Có khi người ta quá thiên về khái niệm giáo sĩ như một alter Christus, nhấn mạnh đến quyền bính tạo ra mối tương quan tiêu cực giữa giáo sĩ và giáo dân. Ngược lại, có nhiều người nại đến sự bình đẳng trong Giáo Hội làm dậy lên trào lưu chống đối giáo sĩ, hoặc giáo sĩ hóa hàng ngũ giáo dân. Sự căng thẳng này đã làm cho cộng đoàn đức tin đánh mất đi tính năng động trong việc tìm kiếm cách thế tuyên xưng trước mặt mọi người đức tin đã lãnh nhận, cho dầu vẫn luôn xác tín: tất cả mọi Kitô hữu có bổn phận phải loan truyền và bảo vệ đức tin bằng lời nói và việc làm như những chứng nhân đích thực (LG 11).
Vì vậy, loan báo Tin Mừng cách mới mẻ chính là canh tân và củng cố mối tương giao này, nhất là Giáo Hội địa phương cần phải nỗ lực làm cho mối tương giao giữa chức “linh mục thừa tác” và chức “linh mục cộng đồng của các tín hữu” thực sự trở thành mối tương giao qua lại cần thiết cho việc loan báo Tin Mừng[13]. Việc canh tân này thiết nghĩ phải được khởi sự từ hàng giáo sĩ, vì nếu quả thực Chúa Giêsu được trình bày như là đầu của Giáo Hội cấu trúc bí tích, thì việc trình bày này chính là nhằm hiện tại hóa sự phục vụ và trao hiến của Chúa Giêsu cho Giáo Hội. Khi Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ của Người, Người tỏ ra như “Chúa và Thầy” của các ông (Ga 13,13 – 15). Người cấm các môn đệ không được bắt chước thái độ của vua chúa trần gian khi thi hành nhiệm vụ (Mc 10,41 – 45), Người muốn Giáo Hội của Người và những người lãnh nhận nhiệm vụ của Giáo Hội phân định rõ ràng về quyền bính của trần thế, và quyền bính của người môn đệ Chúa. Quyền bính của thế trần không đồng hành với quyền bính của Chúa Giêsu, một quyền bính được biểu thị bằng dấu chỉ của tình bằng hữu: “Thầy không gọi anh em là tôi tớ, nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu” (Ga 15,13tt)[14]. Thánh Augustinô đã trình bày mối tương giao giữa chức thánh và người Kitô hữu, để nói lên cấu trúc Bí tích trong Giáo Hội luôn là lời mời gọi dấn thân phục vụ theo tinh thần của Chúa Giêsu: “Điều tôi lo sợ, chính là tôi sống cho anh em, nhưng điều tôi được an ủi, chính là tôi sống với anh em. Cho anh em tôi là Giám mục, với anh em tôi là Kitô hữu. Giám mục là tên chức vụ, Kitô hữu là ân huệ. Giám mục là danh hiệu nguy hiểm, Kitô hữu là danh hiệu có ơn cứu độ”[15].
Kết thúc Đại Hội Dân Chúa 2010, Hội Đồng Giám Mục Viêt Nam cũng đã đưa ra đường hướng hành động để canh tân mối tương giao giữa các thành phần trong Giáo hội như là công việc loan báo Tin Mừng cách mới mẻ của Giáo Hội tại Việt Nam: “Đại Hội Dân Chúa mong muốn Giáo Hội tại Việt Nam củng cố sự hiệp thông và tham gia trong đời sống Giáo Hội ở mọi cấp bậc, tạo điều kiện để mọi thành phần Dân Chúa tích cực tham gia vào đời sống và sứ vụ của Giáo Hội”,[16]và đề nghị “các giám mục nên quan tâm đồng hành, lắng nghe và nâng đỡ các linh mục. Cũng trong tinh thần này, cần khích lệ và cổ võ sự liên đới tương trợ giữa các giáo phận về nhân lực cũng như tài lực”[17]. Cộng đồng Dân Chúa hân hoan về đề nghị của Hội Đồng Giám Mục, bởi giáo dân Việt Nam hằng thao thức về đời sống đức tin của mình, bằng chứng là tại các buổi cử hành Phụng vụ, nhất là Thánh Lễ ngày Chúa nhật, các tín hữu luôn tham dự cách đông đảo và nhiệt tình. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu một cái gì đó để biến sự nhiệt tình này thành những lời loan báo Tin Mừng sống động và hữu hiệu. Cái thiếu đó có thể là sự khích lệ, sự cảm thông, sự quan tâm và lắng nghe phát xuất từ đức ái đích thực của người mục tử?
b- Giáo Hội – một cộng đoàn đức mến: Thánh Giacôbê đã nói: đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Việc làm của đức tin được thánh Giacôbê xác định là hành vi bác ái yêu thương, vì vậy, Giáo Hội: cộng đoàn đức tin cũng là cộng đoàn đức ái. Thật vậy, Thiên Chúa đã qui tụ Dân Người, để Dân này loan báo kỳ công của Chúa. Kỳ công đó không gì hơn chính là tình yêu thương khôn dò của Người. Việc loan báo này một phần do chính Chúa Kitô ủy thác, một phần do bởi nguyên nhân hiện hữu của mình, thánh Cyprianô đã trình bày Giáo Hội phát xuất từ sự hợp nhất của Chúa Cha và Chúa Con cùng với Chúa Thánh Thần[18], hay như sắc lệnh về Hiệp nhất Unitatis Redintegratio trình bày: “Mẫu mực và nguyên mẫu tối cao của mầu nhiệm này (sự hiệp nhất Giáo Hội) chính là sự hiệp nhất của một Thiên Chúa duy nhất trong Ba ngôi vị là Chúa Cha, Chúa Con trong Chúa Thánh Thần” (UR 2). Theo đó, Giáo Hội bắt nguồn từ sự hiệp thông Thiên Chúa, sự hiệp thông của một cấu trúc liên hệ đến tình yêu giữa ba ngôi vị riêng biệt. Khi nói đến Mầu nhiệm Giáo Hội là nói đến việc Giáo Hội tham dự vào đời sống của Tình yêu Thiên Chúa Ba ngôi trong Đức Kitô, Đấng sáng lập Giáo Hội và trong Chúa Thánh Thần, Đấng soi sáng và hướng dẫn mọi người, Giáo Hội được mời gọi và được tạo điều kiện trở thành hình ảnh và dấu chỉ, trở thành bí tích của sự hiệp thông Thiên Chúa và sự hiệp thông nhân loại, không những trong hình thức được hình thành bởi xã hội riêng biệt mà còn cả trong việc phục vụ cho công cuộc hoà giải nhân loại và toàn thể tạo vật với Thiên Chúa (LG 1).
Quả thật, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần Giáo Hội trở thành một cộng đoàn đức ái, chứng nhân cho tình yêu của Chúa Cha, Đấng muốn làm cho nhân loại trở thành một gia đình duy nhất trong Con của Người. “Mọi hoạt động của Hội Thánh đều là sự biểu lộ một tình yêu muốn tìm sự thiện toàn vẹn cho con người: Hội Thánh nỗ lực Phúc Âm hoá con người qua lời và các bí tích - một công việc thường rất anh hùng khi thực hiện trong lịch sử - và tìm cách phát triển con người trong những lĩnh vực khác nhau của cuộc sống và sinh hoạt nhân văn. Như thế tình yêu trở thành việc phục vụ mà Hội Thánh thực hiện để luôn đáp ứng với những đau khổ và nhu cầu kể cả những nhu cầu vật chất của con người”[19].
Do đó, việc phục vụ bác ái (diakonia) thuộc về bản chất của Giáo Hội, không thể giao phó cho một ai khác[20]. Việc phục vụ này trước tiên hướng đến người nghèo, bởi họ là đối tượng hàng đầu trong việc phục vụ đức ái của Giáo Hội. Đây không là hành vi phát xuất từ lòng thương xót do bởi cảm tính con người, nhưng nó thuộc về căn tính của Giáo Hội được gọi là Giáo Hội của người nghèo. Gọi như thế không phải là cường điệu hay mị dân, nhưng nó nằm trong chiều kích thần học khi minh định rằng, qua bí tích Rửa tội, tất cả những người tin được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, và vì vậy, Giáo Hội mang lấy tính xã hội và lịch sử của “người con”, luôn lắng nghe và vâng phục Cha trong mọi sự. Có thể nói, Giáo Hội đã mang lấy dáng vẻ của “người con” vì vâng phục bắt nguồn từ tình yêu dành cho Cha, đã “hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,7-8) để tỏ bày tình yêu của Cha cho mọi người. Vâng, Đức Kitô đã mạc khải tình yêu của Thiên Chúa qua sự nghèo khó trong tinh thần lẫn vật chất được biểu lộ trong đời sống và cái chết của Người trên Thập Giá. Do đó, Giáo Hội chỉ có thể bày tỏ hình dáng đích thật của Đức Kitô nơi chính mình, khi Giáo Hội thực sự trở thành “đồng dáng vẻ” với những người mà Chúa Giêsu gọi là “những anh chị em nhỏ nhất” của Người (Mt 25,40), và khi Giáo Hội thực sự là họa ảnh cách cụ thể của Đức Kitô trong “dáng vẻ” nghèo khó, một dáng vẻ mà qua đó, Thiên Chúa đã thổ lộ tình yêu siêu nghiệm của Ngài cho nhân loại.
Quả thật, tội đã phá hủy sự giàu sang mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con người qua công trình tạo dựng. Tội đã làm cho con người nhận ra sự tràn truồng của mình (St 3,11), con người chẳng còn gì, chỉ còn là một kiếp người mỏng dòn với thân phận bụi tro và phải chết. Với một tình yêu khôn tả, Thiên Chúa đã “quay lại chống đối chính mình”[21]để giang rộng đôi tay ôm lấy con người với một thân phận “trần truồng” nghèo khó chẳng còn gì. Được nên giống như Chúa Kitô, Giáo Hội cũng ôm lấy nhân loại nghèo khó này như gia nghiệp của mình, ôm lấy để hiến thân phục vụ hầu phục hồi “sự giàu có” cho họ.
Trong một thế giới phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật, điều kiện sống của con người xem ra được nâng cao xứng hợp với phẩm giá, thế nhưng trong thực tế số người nghèo ngày một gia tăng, và hố ngăn cách giữa giàu và nghèo ngày càng mở rộng. Vẫn còn đó những nguyên nhân gây ra sự nghèo khó trong xã hội: - về khía cạnh vật chất: cuộc sống dưới mức tối thiểu để có thể được gọi là đủ sống; - khía cạnh xã hội: kỳ thị, cô độc v.v...; - khía cạnh thể chất và tâm lý: bệnh tật và tàn tật; - khía cạnh chính trị: ức hiếp, bóc lột, cưỡng bức; - khiá cạnh đạo đức: bị ngăn cản không được dự phần vào các sinh hoạt đời sống chung trong xã hội một cách thích hợp (tội phạm, mại dâm, ma túy). Tất cả đều bắt nguồn từ một cuộc sống tham lam, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa bởi một lương tâm vô cảm, chai lì không còn quan tâm đến tha nhân như người anh em của mình nữa
Đối diện với thực trạng này, Giáo Hội phải nỗ lực phục vụ để xóa bỏ hố sâu ngăn cách phù hợp với căn tính cộng đoàn đức ái của mình. Giáo Hội không phải là một tổ chức chính trị, vì vậy việc phục vụ của Giáo Hội không tạo nên sự căng thẳng của một cuộc đấu tranh chống giai cấp, nhưng là kiến tạo một không gian sống đượm tình bác ái trong sự công bằng, bởi bác ái sẽ không thể hiện hữu nếu không có công lý[22]. Nhưng kiến tạo sự công bằng đó như thế nào? Đức Bênêđictô XVI đã đưa ra chỉ dẫn: “Hội Thánh không thể và cũng không được phép tham gia vào cuộc tranh chấp chính trị để thực hiện một xã hội công bằng nhất. Mặc dù Hội Thánh không thể và không được phép thay thế vị trí của Nhà nước, nhưng cũng không thể và không được phép đứng bên ngoài cuộc đấu tranh cho công bằng. Hội Thánh phải dấn thân vào cuộc đấu tranh này bằng con đường lý luận dựa theo lý trí và phải thức tỉnh những sức mạnh tinh thần, vì nếu không có những sức mạnh này thì sự công bằng, vốn luôn đòi hỏi sự hy sinh, không thể được thực thi và phát triển. Xã hội công bằng không thể là công trình của Hội Thánh, nhưng phải được chính trị thực hiện. Dù vậy, cố gắng để có được sự công bằng nhờ việc soi sáng nhận thức và ý chí cho những đòi buộc của các điều thiện hảo là điều Hội Thánh rất tha thiết”.[23]
Như vậy, cuộc đấu tranh cho công bằng của Giáo Hội chính là nỗ lực tìm mọi cách thế để giáo dục lương tri cho con người. Công cuộc giáo dục này cần phải được các Giáo Hội địa phương tích cực hành động bằng những chương trình cụ thể, các Giáo huấn xã hội của Giáo Hội cần được khai triển và học tập trong các cộng đoàn Giáo xứ. Chương trình dạy giáo lý không thể bỏ qua việc giáo dục lương tâm, ý thức về sự công bằng, và học hỏi về các Giáo huấn xã hội của Giáo Hội, bởi giáo dục lương tâm ngay thẳng luôn gắn chặt với việc giáo dục đức tin Kitô giáo. Đức tin chỉ có thể sống và lớn lên trong một tâm hồn ngay chính, yêu sự thật và ghét bỏ gian tà. Có thể nó được rằng, việc loan báo Tin Mừng cách mới mẻ coi những lãnh vực giáo dục này là những “Sân của Dân Ngoại”: “giúp con người sống đầy đủ mục đích cơ bản hay ‘ơn gọi’ của họ giữa những đổi thay mà họ đang trải nghiệm, đó là đưa vấn đề Thiên Chúa và đức tin Kitô giáo lên diễn đàn của con người thời nay, và coi những lãnh vực này là quĩ đạo ở đó những con người được đào luyện để trở nên tự do và trưởng thành, và đến lượt họ, họ có thể đưa vấn đề Thiên Chúa vào đời sống, gia đình và nơi làm việc của chính họ”.[24]Đây cũng là một trong những cách thế để nhân loại nhận ra Tin Mừng tình yêu. Trước cảnh nghèo khó của bao người, chúng ta thử tìm câu trả lời cho vấn nạn sau: “Giáo Hội, nàng có muốn là ‘Dân được chúc phúc’, không có một bảo đảm nào cho nàng ngoài Đức Kitô: Một dân nghèo hèn, Dân sống chiêm niệm và kiến tạo hòa bình, là người mang lại niềm vui và mở lễ hội trong niềm hân hoan giải phóng đối với nhân loại, nhưng cũng có mối hiểm nguy đính kèm: bị bắt bớ vì sự công chính không?”[25].
Như là Hiền Thê trung tín của Đức Kitô, Giáo Hội tại Việt Nam luôn nhận ra được những hình thức mới của sự nghèo khổ, bén nhạy trước những đổi thay của xã hội, và để kịp thời đáp ứng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam mong muốn các tín hữu của mình hăng say dấn thân phục vụ cho công bằng xã hội, hầu giúp cho “những anh chị em còn phải chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế, xã hội cũng như văn hóa”[26] nhận được sự quan tâm đặc biệt của Giáo Hội. “Các bệnh nhân, những người tàn tật, già yếu, neo đơn, mồ côi, những thiếu nữ lầm lỡ, các tù nhân… cũng là những thành phần cần được chăm sóc nhiều hơn trong các hoạt động mục vụ. Các cộng đoàn Kitô hữu cần tìm cách thể hiện tình yêu thương phục vụ họ cách cụ thể, đồng hành với họ trong những khó khăn của đời sống, giúp họ nhận ra được niềm vui của đức tin khi được nên giống Đấng chịu đóng đinh và hoàn tất những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Người vì Hội Thánh (x. Cl 1, 24)”[27].
Một trong những dấn thân phục vụ để giảm bớt những khổ đau do sự túng thiếu nghèo khó mang lại, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đề nghị: các cộng đoàn Kitô hữu, gia đình cũng như các đoàn thể, giáo xứ cũng như các dòng tu, hãy hết sức quan tâm đến giáo dục, hỗ trợ những học sinh nghèo, nâng cao trình độ học vấn của giới trẻ, dạy nghề cho giới trẻ miền quê, đồng hành với giới giáo chức Công Giáo[28]. Nhất là “các giáo xứ cần quan tâm đến nền giáo dục đại chúng về lương tâm, những giá trị nhân bản và văn hóa đối thoại, dưới ánh sáng Lời Chúa”[29]. Đây là hướng đi đúng đắn của Giáo hội Việt Nam, tuy nhiên đâu là những chỉ dẫn để cho những đề nghị này thực sự trở thành phương châm hành động thiết thực trong các chương trình sinh hoạt mục vụ của các Giáo phận, Giáo xứ?
2- Như là Dân Thiên Chúa, Giáo Hội là một cộng đoàn mang tính tương quan
Trọng tâm chính của nhiệm vụ Giáo Hội là mang ơn cứu độ được Chúa Cha trao ban qua Đức Giêsu Kitô đến cho hết mọi dân tộc để tất cả mọi người được nên một với nhau trong một đoàn dân duy nhất, được gọi là Dân Thiên Chúa. Gọi như thế, nhằm nói lên mối tương quan giữa Giáo Hội và Cha của Đức Giêsu Kitô, Đấng là nguyên khởi và hoàn tất công trình tạo dựng. Là Dân Thiên Chúa, Giáo Hội luôn hướng tới phạm trù phổ quát của ơn cứu độ, Giáo Hội ra sức mời gọi mọi người trên thế giới dự phần vào ơn cứu độ. Công đồng Vatican II đã nỗ lực vượt qua mọi rào cản để tìm ra căn tính đích thật của Giáo Hội như là Dân Thiên Chúa. Căn tính đó không còn được định nghĩa từ chỗ phân biệt bởi sự khác nhau về các cách thế biểu lộ đức tin và từ yêu cầu về tính cách độc tôn (exclusive) của Giáo Hội trong các trình bày thần học. Giáo Hội đã bắt đầu đổi mới cái nhìn chính mình khi định nghĩa về mình qua mối tương quan và qua sự phân định ranh giới giữa Giáo Hội Công giáo và các Giáo Hội khác (LG 13 – 16).
Từ khái niệm Giáo Hội ưu việt độc tôn (exclusive) của thời sau Công đồng Tridentinô, Công đồng Vatican II đã đưa ra một suy tư mới về Giáo Hội: “Giáo Hội tương quan”. Giáo Hội như là “Dân Thiên Chúa” trong chiều kích của mối tương quan khác nhau khởi đầu từ “trong” rối đến “ngoài”, qua mối tương quan này Giáo Hội được cấu thành như một chủ thể mang xã hội tính của đức tin (x. LG 8).
Nền tảng cho quan niệm mở rộng của Giáo Hội Công giáo đối với các Giáo Hội khác nằm ở mối tương quan cánh chung: Thật vậy, nếu Giáo Hội được nhìn một cách cụ thể trong chiều kích tương quan tới Vương quốc Thiên Chúa trọn hảo, và nhờ đó Giáo Hội tìm thấy căn tính của mình như là “Giáo Hội phổ quát” (x. LG 2), thì đồng thời cũng đòi hỏi Giáo Hội phải tự vượt qua hình thức thuộc định chế mang tính riêng biệt, để đặt mối tương quan với các hình thức khác, mà tâm điểm lịch sử của chúng có tiềm ẩn mối tương quan với Giáo Hội Công giáo, từ đó khám phá rằng, ở nơi mỗi con đường, các tín đồ cũng đang nỗ lực tìm kiếm chân lý bằng những cảm nghiệm khác nhau, họ có cùng mục đích với Giáo Hội (Thí dụ: trong các Giáo Hội Kitô khác, trong các tôn giáo và tín ngưỡng khác, ngay cả trong những người được gọi là vô thần đang tìm kiếm ơn cứu độ một cách thầm kín)[30]. Bước đi này nhằm khẳng định đến căn tính của Giáo Hội không còn co cụm trong cấu trúc phẩm trật, nhưng Giáo Hội mở rộng mối tương quan đến chiều kích toàn cầu, nhằm biến đổi thế giới và đưa thế giới đạt tới tình yêu giải phóng và cứu chuộc của Thiên Chúa. Nhờ đó mà căn tính của Giáo Hội được tỏ hiện một cách rõ ràng. Thế nhưng, nếu Giáo Hội tìm thấy ý nghĩa đích thực về chính mình trong chiều kích tương quan phổ quát, thì phải hiểu thế nào về khái niệm Giáo Hội “công giáo”? Trước tiên phải hiểu cụm từ “công giáo” được công đồng Tridentinô xử dụng nhằm phân biệt Giáo Hội Công giáo với các Giáo Hội Cải cách (Tin lành), và với những người không công giáo, vô tín ngưỡng, ngoại đạo, tà giáo, ly giáo. Công đồng Vatican II đã cố gắng điều chỉnh lại khái niệm hẹp hòi này và đã trả lại ý nghĩa nguyên thủy của từ ngữ “công giáo” thời các Giáo phụ.
Chính từ quan niệm này của Công đồng đã vẽ ra một con đường loan báo Tin Mừng cách mới mẻ trong mối tương quan với nhân loại qua đối thoại để cùng với họ, Giáo Hội thực thi ý muốn của Thiên Chúa về việc kiến tạo hòa bình, xây dựng công lý, bảo vệ và tôn trọng sự sống. Giáo Hội đích thật là Giáo Hội vừa con người, vừa Kitô, Đấng đã phục vụ cho hết mọi người để mong sao mọi người trở thành công dân của Vương quốc Thiên Chúa. Công đồng đã vạch ra con đường đối thoại không nhằm chiêu nạp tín đồ, để thuyết phục, nhưng nói như Đức Bênêđictô XVI, đối thoại là “mở ra một thứ ‘Sân của Dân Ngoại’ để người ta có thể một cách nào đó chạm tới Thiên Chúa đang khi còn chưa biết Người và chưa đi vào được mầu nhiệm của Người, là mầu nhiệm được cử hành bởi đời sống bên trong của Hội Thánh. Ngày nay, ngoài việc đối thoại liên tôn, cần phải có một cuộc đối thoại với những người mà tôn giáo đối với họ là một cái gì xa lạ, những người không biết Thiên Chúa nhưng không muốn sống là người vô thần, trái lại muốn được lôi kéo đến gần Người, mặc dù họ không biết Người”[31].
Nhiều người công giáo, kể cả một số nhà thần học hiểu lầm: khi trình bày Giáo Hội như là Dân Thiên Chúa – một cộng đoàn mang tính tương quan, Giáo Hội cổ vũ cho việc đối thoại liên tôn như một công nhận “Đạo nào cũng tốt”, hoặc đồng ý rằng người ta có thể thuộc về nhiều tôn giáo khác nhau cùng một lúc (Multiple religious belonging), và coi các nhà sáng lập các tôn giáo khác ngang hàng với Đức Kitô, hoặc là nghiêng theo chủ nghĩa chiết trung (electicisme).Giáo Hội không bao giờ ủng hộ cho trào lưu tương đối hóa tôn giáo, một trào lưu được mục sư Presbyterian Hoa Kỳ John Hick ra sức cổ vũ qua đường lối đối thoại tôn giáo. Theo ông, “đối thoại phải là một sự trao đổi giữa những lập trường ngang hàng với nhau, và như thế chúng sẽ có liên hệ hỗ tương với nhau. Chỉ bằng cách này mới đạt được sự hợp tác và hợp nhất tối đa giữa các tôn giáo khác nhau”[32]. Giáo Hội kiên quyết loại trừ tư duy này. Bởi theo Giáo huấn của Giáo Hội, đối thoại tôn giáo không là thỏa hiệp hay cào bằng chân lý. Chủ trương đối thoại tôn giáo, Giáo Hội công nhận sự bình đẳng như là cách thế để tiến hành đối thoại, “chứ không phải về nội dung giáo lý, càng không phải về địa vị của Chúa Giêsu Kitô - Ngài là chính Thiên Chúa đã làm người - trong tương quan với các sáng lập viên các tôn giáo khác. Thật vậy, Giáo Hội, được hướng dẫn bởi đức ái và lòng tôn trọng tự do, trước hết phải dấn thân rao giảng cho các dân tộc chân lý do Chúa đã dứt khoát mạc khải, và loan truyền sự cần thiết kết hợp với Giáo Hội qua bí tích Rửa tội và các bí tích khác, ngõ hầu tham gia đầy đủ trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”[33]. Giáo Hội luôn kiên định về đức tin của mình, theo đó, “mạc khải về mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa đã được ban cho cách đầy đủ và trọn vẹn nơi Chúa Giêsu Kitô”[34]. Người là trung gian cứu độ duy nhất. Chính Người thiết lập Giáo Hội như một mầu nhiệm cứu độ: Người ở trong Giáo Hội và Giáo Hội ở trong Người. Và vì vậy, chỉ có một Giáo Hội duy nhất do chính Chúa Kitô thiết lập, Giáo Hội này được cấu tạo và tổ chức như một xã hội trong thế giới ngày nay, tồn tại trong (subsistit in) Giáo Hội Công Giáo, được quản trị bởi Thánh Phêrô và các Giám Mục hiệp thông với người[35].
Cổ vũ cho việc loan báo Tin Mừng cách mới mẻ trong suy tư Giáo Hội – một cộng đoàn mang tính tương quan là mời gọi mọi thành phần Dân Chúa dũng cảm nói về Thiên Chúa trong một xã hội đa tôn giáo nhưng lại khước từ sự hiện hữu của Thiên Chúa Mạc khải. Chấp nhận đối chất chứ không né tránh hay loại trừ ngay cả với những hình thức mới của chủ nghĩa vô thần hay chủ nghĩa cực đoan muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống[36]. Để có được dũng cảm đó, trước tiên mọi thành phần Dân Chúa phải thể hiện được sự đồng tâm nhất trí với nhau trong mối tương quan anh em cùng một Cha trên Trời, loại những lo toan không sinh hiệu qủa ở những vấn đề loanh quanh trong nội bộ Giáo Hội. Các Kitô hữu chúng ta phải thể hiện sự hiệp nhất với nhau, để qua đó chúng ta dẫn Giáo Hội vào trong vùng trời rộng lớn có nhiều năng lực, giúp người ta nhận ra dấu chỉ Nước Thiên Chúa trong thế giới của chúng ta, và biến Giáo Hội trở thành dấu chỉ đó. Hãy để từ trong Giáo Hội trổ sinh một niềm hy vọng mới. Chính bởi việc hiệp nhất, loại bỏ mọi bất đồng để hòa giải với nhau mà các Kitô hữu cống hiến cho thế giới một đời sống công lý, hoà bình, cuộc sống chung giữa các dân tộc và sự bảo vệ môi trường “như là những nơi để chúng ta làm rõ vấn đề về Thiên Chúa trong đời sống con người. Thật vậy, những điều này chỉ có được ý nghĩa đích thực nhất của chúng dựa trên cơ sở của lời tình yêu mà Thiên Chúa ban cho chúng ta trong Con của Người là Đức Giêsu Kitô”[37].
Có thể dùng những lời sau đây của thầy Roger Schutz, người sáng lập cộng đoàn Taizé để thực hiện một cuộc hoà giải trong Giáo Hội:
“Các bạn trẻ của tôi ở trong thời đại có nhiều xâu xé và tranh chấp giữa con người xuyên qua cả Âu lục. Do đó tôi tự hỏi: Tại sao có những cuộc tranh chấp giữa con người với nhau, ngay cả giữa những Kitô hữu? Tại sao có những kết án mà không có sự cảm thông? Và tôi cũng tự hỏi: Có chăng ở trên trái đất này một con đường dẫn đến việc hiểu biết lẫn nhau? Tôi tự nhủ: con đường này có được khởi sự từ nơi chính anh, và chính anh tự dấn thân để xây dựng con đường đó. Chính anh sẽ là nhịp cầu để tất cả mọi người hiểu biết lẫn nhau”[38].
Giáo Hội tại Việt Nam cũng mong muốn canh tân chính mình, để mình thực sự là không gian gặp gỡ Đức Kitô của mọi người, một không gian được lan tỏa đức ái của Tin Mừng, đức ái biểu tỏ sự tôn trọng, lắng nghe…. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam khẳng định: “Trong bối cảnh của xã hội Việt Nam, khi thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, Giáo Hội cần đối thoại với các tôn giáo, … và với những anh chị em không tôn giáo. Đây là cuộc đối thoại từ trái tim đến trái tim nhằm xây dựng sự hiểu biết lẫn nhau và phục vụ hạnh phúc đích thực của con người. Đó cũng là cuộc đối thoại phục vụ ơn cứu độ”.[39]
Kết: Như là Dân Thiên Chúa, Giáo Hội trở thành dấu chỉ của niềm hy vọng
Đứng trước thực trạng hữu hạn của mình đặc biệt là cái chết, để rồi nhìn về phía trước là một tương lai bất định, âu lo và sợ hãi luôn khuấy động cuộc sống. Tương lai của tôi là gì và đâu là niềm hy vọng của cuộc sống? Giáo Hội được Chúa thiết lập để trả lời cho những vấn nạn này.
Thật vậy, sự sợ hãi và nỗi âu lo là do bởi con người bước đi trong bóng đêm của tội, bởi tội làm cho con người trở nên mù tối không còn nhận biết Thiên Chúa là nguồn mạch hạnh phúc. Đức Kitô xuất hiện như Ánh sáng dẫn đưa con người ra khỏi bóng đêm của sự sợ hãi này. Người trở nên niềm hy vọng cho chúng ta, ngoài Chúa Kitô không ai có thể mang lại niềm hy vọng lớn lao cho nhân loại, vì niềm hy vọng đó là niềm hy vọng cứu độ. Niềm hy vọng đó được tiếp tục chiếu sáng trong nhân loại qua việc Chúa thiết lập Giáo Hội. Vâng, Giáo Hội là cộng đoàn phản chiếu ánh sáng của niềm hy vọng này, trở thành biến cố của việc hiện tại hóa Chúa Giêsu Kitô và của ơn cứu độ Người đối với nhân loại. Bởi đó, Giáo Hội trình bày niềm hy vọng cứu độ qua việc loan báo cũng như qua các hoạt động của mình không đơn giản như là người chỉ đường, nhưng như chính là con đường.
Vì thế, trong việc nỗ lực trình bày cho con người về niềm hy vọng cứu độ, thì ngay chính Giáo Hội cũng đã là một cộng đoàn cánh chung, một cộng đoàn đang chờ đợi sự trở lại của Đức Kitô cách vinh quang trong tương lai, Cộng đoàn chờ đợi đó cũng đang chứa đựng nơi chính mình sự trở lại của Đức Kitô trong hiện tại hôm nay. Hai nhãn quan “tương lai” và “hiện tại” đó nói lên đặc tính Giáo Hội như là Dân Thiên Chúa: Dân của niềm hy vọng.
Vì thế, Giáo Hội chỉ có thể tìm đúng ý nghĩa thần học của mình khi kiến tạo mối tương quan giữa Vương quốc Thiên Chúa đã hứa và đã đến trong Đức Giêsu Kitô với mọi người. Mối tương quan đó được đâm chồi nẩy lộc nơi chính Đức Giêsu Kitô, vì chính Người mới là nguồn hy vọng cho con người. Giáo Hội là không gian của cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và những con người đang khao khát nguồn ơn cứu độ, họ là những người như Maria, Matta, họ có thể là Nicôđêmô đến gặp Chúa ban đêm, hoặc như là một phụ nữ Samaria…Tất cả mọi người được kêu gọi đến với Chúa Giêsu qua những hình thức khác nhau đều có thể đạt tới niềm hy vọng của Dân Thiên Chúa, bởi “Ai bị rung động bởi tình yêu sẽ bắt đầu cảm nhận được “sự sống” thực sự là gì. Người ấy bắt đầu cảm nhận ý nghĩa của lời hy vọng mà chúng ta đã gặp trong Nghi Thức Rửa Tội: ở nơi đức tin tôi trông đợi “sự sống đời đời” – sự sống thật trong đó, toàn thể và chắc chắn, trong trạng thái viên mãn nhất, thuần tuý là sự sống. Chúa Giêsu, Đấng loan báo rằng Ngài đã đến để chúng ta được sống và sống trong viên mãn, sống dồi dào (x. Ga 10,10), cũng đã giải thích với chúng ta ý nghĩa của “sự sống”: “sự sống đời đời là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô” (Ga 17,3). Sự sống trong ý nghĩa đích thực của nó không phải là một điều gì chúng ta sở hữu độc quyền hay đến từ chính chúng ta: đó là một tương quan. Và sự sống toàn diện là tương quan với Đấng là nguồn mạch của sự sống. Nếu chúng ta sống trong mối tương quan với Ngài, Đấng không chết, Đấng chính là Sự Sống và Tình Yêu, thì chúng ta ở trong sự sống. Khi đó chúng ta ‘sống’”[40].
Có thể nói cuộc gặp gỡ với Đức Kitô giữa những người Công giáo và những người tin vào Chúa Kitô là hiện thân cho định chế của Dân Thiên Chúa, một Dân bao gồm mối tương quan “thuộc về”(pertineri) và “hướng về” (ordinari) của những tín hữu. Điều đó khẳng định: cả hai chiều kích hình dáng “phổ quát” và “định chế” của Giáo Hội qui chiếu về nhau, tạo nên “Bí tích cứu độ phổ quát”; cả hai giới thiệu cho nhau và cho chính mình sự hiệp thông cứu độ của Vương quốc Thiên Chúa nơi con người. Đó chính là dấu chỉ hy vọng của Vương quốc Thiên Chúa nơi trần gian này.
Để có trở thành dấu chỉ của Vương quốc, Giáo Hội phải gieo hy vọng vào thế giới, đó chính là thực hiện việc loan báo Tin Mừng cho nhân loại, bởi nhân loại cần có hy vọng để sống. Nội dung của niềm hy vọng nàylà “Thiên Chúa, Đấng có bộ mặt con người và ‘đã yêu thương chúng ta đến cùng’”[41]. Thế nhưng, công việc gieo vãi như đang bị khủng hoảng do những nghi kỵ của người thời đại. “Đây là lý do khiến chúng ta phải lặp lại lời kêu gọi thực hiện một cuộc loan báo Tin Mừng cách mới mẻ, không chỉ như là một nhiệm vụ được thêm vào, nhưng là một cách để phục hồi niềm vui và sự sống cho những hoàn cảnh bị tù túng trong sợ hãi.Vì vậy chúng ta tiến bước vào cuộc loan báo Tin Mừng với tinh thần phấn khởi. Chúng ta sẽ học được niềm vui dịu ngọt và an ủi của việc rao giảng Tin Mừng, cả khi việc rao giảng xem ra giống như một hạt giống gieo trong nước mắt (x. Tv 126,6). “Chớ gì đối với chúng ta niềm vui này là một sự phấn khởi mà không một ai hay một điều gì có thể dập tắt nổi. Chớ gì nó là niềm vui to lớn cho đời sống tận hiến của chúng ta. Và chớ gì thế giới của thời đại chúng ta, một thế giới đang đi tìm, đôi khi trong lo âu, đôi khi trong hi vọng, có thể nhận lãnh Tin Mừng không phải bởi những người rao giảng chán nản, thất vọng, thiếu kiên nhẫn hay lo âu, nhưng bởi những thừa tác viên Tin Mừng có đời sống cháy bừng lửa nhiệt tình, những người đã nhận được niềm vui từ Đức Kitô trước, và sẵn sàng hi sinh mạng sống để Nước Thiên Chúa được rao giảng và Hội Thánh được thiết lập giữa thế giới.”[42]
Lm Antôn Hà Văn Minh
[1]X. Giám mục W. Kempf, Fuer euch und fuer alle, Fastenhirtenbrief 1981, Limburg 1981; Giám mục K. Lehman, „Geistes-Gegenwart und Weggemeinschaft“, Gepraech in: HK 43 (1989), 67 – 74; Giám mục J. Homeyer, „Es bedarf einer zweiten Bekehrung“, Gepraech in: HK 44 (1990), 417 – 423.
[2]X. J. Ratzinger, Salz der Erde, NXB Anstalt GmbH, Stuttgart 1996, tr. 171.
[3]X.Đức Hồng Y Godfried Daneels, Trả lời phỏng vấn về vấn đề sống đạo tại Bỉ, tạp chí Trenta Giorni,10.11. 2009, trang 25-31.
[4]Lineamenta,Thượng Hội Đồng Giám Mục Thường niên lần thứ XIII, 5.
[5]Nt.
[6]Đức Phaolô VI, Tông huấn Evangelii nuntiandi, 8.12.1975, 15.
[7]Nt, 18.
[8]Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, 31
[9]X. Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, số 751.
[10]Bernard Haering CSsR, Free and Faithful in Christ, Bản Việt Ngữ: Tự Do & Trung Thành trong Đức Kitô, do Lm Dom. Nguyễn Đức Thông CSsR chuyển ngữ, NXB Tôn Giáo 2012, Cuốn I, tr. 169, 170.
[11]H. J. Pottmeyer, Der eine Geist als Prinzip der Einheit der Kirche in Vielfalt. Auswege aus einer christomonistischen Ekklesiologie, trong: Pastoraltheologische Informationen 5 (1985) Heft, tr. 278.
[12]Augustinô, De Praed Sanct 14, 27: PL 44, 980.
[13]Giáo sư Thần học về Giáo Hội học Medard Kehl nhận định: Công đồng Vatican II đã nỗ lực làm sáng tỏ mối tương quan giữa chức “linh mục thừa tác” và chức “linh mục cộng đồng của các tín hữu” trong LG 10 với cách trình bày rất dễ hiểu lầm: cả hai phân biệt “chính yếu tínhvà không chỉ làcấp bậc”. Điều đó có nghĩa là gì? Qua từ ngữ “không chỉ” cách nói này trước tiên đã nói đến một sự cách biệt về cấp bậc trong việc tham dự chức linh mục của Chúa Giêsu, và như thế dẫn đến một sự cách biệt trong chính bản chất Kitô hữu; hình như thánh chức linh mục dự phần vào ân sủng của Chức linh mục Chúa Kitô nhiều hơn chức linh mục cộng đồng của những người chịu Phép Rửa và chịu Phép Thêm sức và như thế chức linh mục thừa tác đứng cao hơn chức linh mục cộng đồng trong trật tự cứu chuộc. Ngày nay hầu hết các nhà thần học từ chối điều này, vì sự cách biệt về việc tham dự vào ân sủng và ơn cứu độ không nằm trong ý nghĩa của Bí tích này. Theo cách khách quan Bí tích Truyền chức thánh không ban cho người nhận lãnh một sự thánh thiện cao hơn. Điều này rõ ràng ngược với tinh thần LG 32 về “một sự bình đẳng đích thật giữa tất cả mọi người, một sự bình đẳng về phẩm giá”. X. M. Kehl, Die Kirche?, Eine kathologische Ekklesiologie, NXB Echter, Wuerburg 1994, tr.113-114.
[14]X. H. Legrand, Die Gestalt der Kirche, trong: P. Eicher (xuất bản), Neue Summe Theologie 3: Der Dienst der Gemeinde, Freiburg 1989, 87 – 181.
[15] Augustinô, Sermo 340, 1 (= PL 38, 1483). Trích trong Lumen Gentium, 32.
[16]Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, 23
[17]Nt, 25.
[18]X. Cyprianô, De Orat. Dom. 23. PL 4, 553.
[19]Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus caritas est, 25.12.2005, 19.
[20]X. Nt, 25.
[21]Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus caritas est, 12.
[22]Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate, 29.06.2009, 6.
[23]Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus caritas est, 28.
[24]Lineamenta, Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới lần thứ XIII, 21.
[25]Roger Schutz,Taiz und das Konzil der Jugend, Freiburg 1979, 78.
[26]Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, 41.
[27]Nt.
[28]Nt, 37.
[29]Nt, 38.
[30]X. M. Kehl, Die Kirche, Eine katholíche Ekklesiologie, NXB Echter, Wuerzburg 1994, tr. 94.
[31]Đức Bênêđictô XVI, Diễn văn Mùa Giáng Sinh cho Giáo triều Roma và các Đại diện Giáo Hoàng 21.12.2009.
[32]Trích trong bài thuyết trình của ĐHY Giuse Ratzinger (tức là Đức Đương Kim Giáo Hoàng Bênêđictô) trong buổi họp các chủ tịch các Ủy Ban Tín Lý của các Hội Đồng Giám Mục Châu Mỹ La Tinh tại Guadalajara, Mễ Tây Cơ, tháng 5, năm 1996, do Phạm văn Khôi chuyển sang Việt ngữ,
nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Html/55802.htm.
[33]Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Tuyên ngôn Dominus Jeus, 6.8.2000, 22.
[34]Nt,6.
[35]Nt,16; Lumen Gentium, 8.
[36]Lineamenta, Thượng Hội Đồng Giám Mục Thường niên lần thứ XIII, 7.
[37]Lineamenta, Thượng Hội Đồng Giám Mục Thường niên lần thứ XIII, 7.
[38]Trích theo W. Schaeffer, Erneuerter Glaube – Verwirkliches Menschsen, Zuerich 1983, 255.
[39]Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, 39.
[40]Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Spe Salvi, 31.11.2007, số 27.
[41]Nt, 31.
[42]Đức Phaolô VI, Tông Huấn Evangelii nuntiandi , 8.12.1975, 80.
ĐỀ TÀI 3: LOAN BÁO TIN MỪNG CÁCH MỚI MẺ DƯỚI GÓC ĐỘ GIÁO HỘI NHƯ LÀ THÂN MÌNH ĐỨC KITIÔ [TÂN PHÚC ÂM HOÁ]
Dẫn Nhập
Như chúng ta đã biết, Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XIII, được Đức Bênêđictô XVI triệu tập, sẽ diễn ra tại Roma vào tháng 10, năm 2012 với chủ đề: “Tân Phúc âm hóa để thông truyền Đức Tin Kitô giáo” (Nova evangelizatio ad christianam fidem tradendam). Và chúng ta cũng biết rằng, trước đó, Đức Gioan Phaolô II đã giải thích trong những dịp viếng thăm mục vụ ở nhiều nơi trên thế giới, theo đó chúng ta đi đến một nhận định: Tân Phúc Âm hoá không phải là tìm kiếm hay giới thiệu một Phúc Âm mới, nhưng chính là nỗ lực loan báo Tin Mừng với cách diễn đạt mới, phương pháp mới, phong cách mới, cường độ mới, nhiệt huyết mới hay khí thế mới trước những thách đố mới của tâm thức và văn hóa thời đại.
Để tiếp tục buổi thảo luận hôm nay, đề tài được trình bày sau đây như là một cố gắng minh định phần nào điều muốn nói khi suy nghĩ về “Loan Báo Tin Mừng cách mới mẻ dưới góc độ Giáo Hội là Thân Mình Đức Kitô”. Đặt vấn đề như thế, bởi vì Giáo Hội vừa là “người rao giảng” vừa là “kết quả” của việc rao giảng, như các thuyết trình viên khác đã trình bày.[1] Và thiết nghĩ, theo hướng nhìn của Thượng Hội Đồng Giám Mục trong bản Đề Cương (Lineamenta), khi tìm kiếm phương pháp mới, thực sự đó chính là lúc chúng ta phản tỉnh về căn tính, tìm lại lý do về sự hiện hữu của mình, cũng như tìm ra cách thức mới để sống đức tin, để làm người Kitô hữu, để là Giáo Hội. Vatican II đã khẳng định: “Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo”. Vậy Giáo Hội rao giảng Tin Mừng, nên Giáo Hội hiện hữu. Giáo Hội hiện diện giữa lòng thế giới là để “làm chứng cho ký ức sống động về Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô”.[2]
Như thế, chúng ta có thể khởi đầu bằng việc trở về với khái niệm truyền thống: “Giáo Hội là Thân Mình Đức Kitô”, mà chính Thánh Phaolô đề xướng (Ep 4:12; 5:23; 1 Cr 10:17; 12:27; Rm 12:15; Cl 1:24). Trở về với truyền thống, chúng ta thấy rằng Giáo Hội sơ khai đã tìm cách định nghĩa chính mình tiên vàn như một mầu nhiệm tương thuộc, đó là Thân Mình duy nhất của Đức Giêsu Kitô. Thân Mình này bao gồm tất cả những người có cùng một đức tin, nhận lãnh cùng một phép rửa, cùng được dự phần vào một thực tại Thánh Thể, và sinh động bởi một Thần Khí (1 Cr 10:16-17; 12:13; Ep 1:23). Giáo Hội sống bằng chính sự sống của Đức Kitô, vì Người là “Đầu” của toàn thân (Cl 1:15-18) và yêu thương toàn thân như bạn trăm năm (Ep 5:25-28). Do đó, chúng ta sẽ triển khai thành ngữ “Giáo Hội: Thân Mình Đức Kitô” trong bối cảnh của mầu nhiệm hiệp thông, mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô và niềm hy vọng cánh chung của Giáo Hội. Sau đó, chúng ta cùng trao đổi về những phương thức mới, phong thái mới: làm thế nào để có thể loan báo Tin Mừng hữu hiệu hơn, khả tín hơn và đáp ứng được những nhu cầu hay yêu sách đặc biệt của thế giới hôm nay?
1. GIÁO HỘI: THÂN MÌNH ĐỨC KITÔ và SỨ VỤ LOAN BÁO TIN MỪNG
Khi Thánh Phaolô định nghĩa Giáo Hội là Thân Mình Đức Kitô, trước hết là để nhận thức rằng: “như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Ki-tô cũng vậy… tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa (được tái sinh) trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể ” (1 Cr 12:12-13). Có thể nói, đây là một định nghĩa rất “năng động” và “trung thực”, một định nghĩa như muốn tôn trọng toàn vẹn chân tính Giáo Hội, bởi vì nhắm đến Giáo Hội như một thực tại quy tụ các Kitô hữu hiệp thông với Đức Kitô và với nhau trong một Thân Mình. Hơn nữa, khái niệm “Thân Mình Đức Kitô” không chỉ nói đến một cộng đồng các tín hữu địa phương, mà còn ám chỉ cả Giáo Hội phổ quát. Thật vậy, được thiết lập trong Máu Giáo Ước mới và vĩnh cửu của Đức Kitô, Giáo Hội được tràn đầy Thần Khí yêu thương của Người, để trở nên hiện thân của chính Người trong thế giới lịch sử, như bí tích cứu độ, dấu chỉ loan báo Tin Mừng “hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người cũng như giữa con người với nhau.”[3]
Một Cộng Đồng Hiệp Thông loan báo Tin Mừng Hiệp Thông
Như thế, Giáo Hội là một Cộng Đồng hiệp thông, là công trình của Thiên Chúa để loan báo Tin Mừng hiệp thông. Trong nhiều hàm ý khác nhau mà thuật ngữ “hiệp thông” (koinonia) được sử dụng cho phù hợp với từng bối cảnh khác biệt của Tân Ước, ở đây chúng ta tập trung vào cách thức mà theo đó nói đến hiệp thông là nói đến trọng tâm căn tính, bản chất cũng như đời sống và sứ vụ rao giảng của Giáo Hội. Phát sinh từ mầu nhiệm “Hiệp thông Ba Ngôi”, Giáo Hội là một phản ảnh, một bằng chứng của mầu nhiệm hiệp thông tuyệt đối giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. NhưLumen Gentium diễn đạt: “Giáo Hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc được quy tụ do sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.[4] Vì thế, Giáo Hội có nguồn gốc từ trời cao, từ sứ mệnh của Ba Ngôi, là sáng kiến của Thiên Chúa. Chính từ trời mà Con Thiên Chúa đã nhập thể, “hoàn toàn trút bỏ vinh quang”, mặc lấy thân phận con người, “sống như người trần thế” (Pl 2:6-7), và tuôn đổ Thần Khí của Người vào lòng các tín hữu. Thần Khí ấy đã đi vào thế giới lịch sử, linh hoạt, làm cho nhân loại thuộc mọi chủng tộc và dân nước, mọi văn hóa, giai cấp và thời đại trở thành những chi thể của một Thân Mình, đến độ tất cả có thể gọi Thiên Chúa: “Abba, lạy Cha” (Rm 8,15 ; Gl 4,6).
Hơn nữa, như Thân Mình hiệp thông với Đức Kitô và với nhau trong cùng một Thần Khí, Giáo Hội là cộng đồng hiệp nhất trong đa dạng. Hiệp nhất, vì chính Đức Kitô là Đấng đã phá đổ mọi bức tường ngăn cách giữa con người (Ep 2,14). Người là Đấng đã chết để quy tụ tất cả con cái Thiên Chúa về gắn bó với nhau trong một tương quan hoàn toàn mới (Ga 11,52 ; 17, 20 ). Tương quan đó bắt nguồn từ nguyên lý nội tại: “Chỉ có một Thân Mình, một Thần Khí…một Chúa, một đức tin” (Ep 4:1-6). Thế nên, hiệp nhất là đặc tính cấu tạo nên yếu tính của Giáo Hội, một Cộng Đồng được khuôn đúc theo hình ảnh Đức Kitô, “nhờ Người, với Người và trong Người” mà Thần Khí tràn lan trên các tín hữu. Không có hiệp nhất, phải chăng cũng chẳng có một Giáo Hội như ý muốn của Đức Kitô, vì hiệp nhất nằm trong chính định nghĩa về Giáo Hội. Thánh Phaolô, trong bối cảnh Hy Lễ Tạ Ơn, cũng đã tóm lược giáo lý đó:“Chỉ có một Tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Tấm Bánh ấy, nên tuy nhiều người chúng ta chỉ là một thân thể” (1 Cr 10:17). Và đây là điều kiện để Giáo Hội cùng sống, cùng rao giảng bằng sự sống, bằng sức mạnh duy nhất của Thần Khí, vì Người là “Linh Hồn” của Giáo Hội, là nền tảng để có chung cùng một đức tin, một đức ái và một niềm hy vọng .[5] “Quả thật, bằng việc truyền thông Thần Khí của Người, Đức Giêsu đã thiết lập anh em Người, được triệu tập từ muôn dân, thành thân thể của Người cách mầu nhiệm”.[6]
Và nếu hiệp nhất là trạng thái kết hợp mật thiết và hài hòa với nhau, trở nên một trong nhau như huyền nhiệm sâu thẳm của tình yêu, thì đa dạng là chiều kích khai phóng sáng tạo của tình hiệp nhất. Như Vatican II khẳng định: “Giáo Hội do Chúa thiết lập được tổ chức và điều khiển theo nhiều lề lối khác biệt kỳ diệu”.[7] Trong ý nghĩa đó, thì đa dạng không phải là mâu thuẫn với đặc tính duy nhất của một Thân Mình, nhưng trái lại, xác minh tính chất phổ quát của một Giáo Hội trọn vẹn không phân chia, một Giáo Hội công giáo theo nguyên ngữ. Nếu có khác nhau, đó là sự khác biệt trong các nhiệm vụ, công tác, chức năng hay đoàn sủng: “Mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Đức Ki-tô ban cho… Và chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ” (Ep 4:7, 11). Vì thế, đa dạng không phải là hạn chế, nhưng đúng hơn là phương thế thiết yếu làm sáng tỏ sự hiệp nhất của một cộng đồng tham gia, đồng trách nhiệm, cộng sinh, cộng tác và cộng sự: “nhờ đódân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Ki-tô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4:12-13). Chính ở đây mà tính đa dạng cũng nói lên sự phong phú vô hạn của Thần Khí, Đấng ban phát muôn vàn ân huệ khác nhau theo nhu cầu của các thừa tác vụ, ngõ hầu làm cho Giáo Hội được tăng trưởng: “Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (1 Cr 12: 6-7; Rm 12:3; Gl 3:27-28).
Một khía cạnh khác khiến chúng ta nói tới hiệp nhất trong đa dạng, đó là chiều kích “nhập thể” của Giáo Hội vào trong những môi trường, trong đó có những tình huống sống khác biệt về phương diện xã hội, văn hóa, chủng tộc, kinh tế, chính trị giữa các chi thể. Với tư cách là Thân Mình Đức Kitô, để tiếp nối sứ mạng của Người là phục vụ con người và thế giới, Giáo Hội “đến với muôn dân”, “sống giữa muôn dân”, hội nhập, mặc lấy những sắc thái khác nhau trong lối suy tư và hiện hữu liên quan đến cách thức Giáo Hội thể hiện chính mình và cuộc sống cộng đoàn của mình trong việc rao giảng Tin Mừng, trong mọi sinh hoạt mục vụ và cử hành phụng vụ, đồng thời cũng vì thế mà làm nổi bật bản sắc hay những gía trị cá biệt của từng địa phương, từng dân tộc của mọi nền văn hóa nhân loại. Tuy nhiên, phải nói rằng, dù có đa dạng hay khác biệt đến đâu đi nữa, thì tất cả, như Vatican II quảng diễn,“đều làm chứng cho sự hiệp nhất kỳ diệu của Thân Mình Đức Kitô; thực vậy, chính sự khác biệt về ân huệ, tác vụ và hoạt động lại là mối dây kết hợp con cái Thiên Chúa làm một, vì mọi sự đều là công trình của cùng một Thánh Thần duy nhất”.[8] Chính Thánh Thần thôi thúc và dẫn đưa Giáo Hội vào trong tình hiệp thông, vào công tác phục vụ. “Ngườihuấn luyện và dẫn dắt Giáo Hội bằng muôn ơn lành theo phẩm chức và đặcsủng, trang điểm Giáo Hội bằng hoa quả của Người”(Ep 4,11-12; 1Cor 12,4; Gal 5,22). Sự duy nhất và tính đa dạng trong Giáo Hội cũng như sự hiệp thông và cơ chế thừa tác đều bắt nguồn từ đó.
Suy tư hay gợi lại những khía cạnh căn bản về Giáo Hội là Thân Mình Đức Kitô như thế, chúng ta thấy rằng chỉ có thể tiếp nối sứ mạng của Đức Kitô trong sự hiệp thông với Giáo Hội, bằng cách loan báo tất cả Tin Mừng về một con người “toàn diện” như một huyền nhiệm duy nhất, vì Đức Kitô và Giáo Hội là “Đức Kitô toàn thể” (Totus Christus).[9] Giáo Hội là một với Đức Kitô. Giáo Hội làm chứng về một vận mạng chung, về một tình yêu hiệp thông hữu hiệu giữa mọi chi thể, như thế nói lên bản chất của Kitô giáo, làm cho Tin Mừng thực sự hiện diện trong thế giới. Sự hiệp thông giữa các thành phần của Giáo Hội với nhau và với Đức Kitô là dấu chỉ cho con người nhận ra được sự hiệp nhất giữa Người với Chúa Cha và Thần Khí. Và đó cũng là lý do tại sao vấn đề hiệp nhất giữa những người cùng niềm tin vào Đức Kitô lại là một trong những thách đố hàng đầu của công cuộc loan báo Tin Mừng. Đúng theo kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa thì Giáo Hội nhất thiết là bí tích hiệp thông, dấu chỉ và khí cụ hiệp nhất giữa con người, để rao giảng Tin Mừng hiệp thông, vượt qua mọi chia rẽ trong nhân loại.[10] Giáo Hội chỉ duy nhất, thánh thiện trong Thân Mình duy nhất của Đức Kitô, trong Thần Khí duy nhất của Thiên Chúa, và chỉ tông truyền khi trung thành với mệnh lệnh:“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15).
Thế nên, khi sự hiệp thông nơi Thân Mình Đức Kitô bị đổ vỡ, nhất là trong bối cảnh hôm nay của nhân loại, thì sứ vụ rao giảng trở thành một vấn nạn hơn là sứ điệp có sức mạnh khai mở dẫn tới niềm tin. Điều đó có ảnh hưởng quyết định đến tính khả tín của Giáo Hội là chủ thể loan báo: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy… là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:35). Vì vậy, tất cả nỗ lực truyền bá Phúc Âm, trước hết đòi hỏi Giáo Hội chú tâm tới ý nghĩa hiệp thông cũng như ý thức sâu xa về sự hiệp nhất giữa các chi thể trong một Thân Mình. Đặc biệt, hơn bao giờ hết, có thể nói chính xác, như Đức Gioan Phaolô II:“làm thế nào để Giáo Hội trở thành trường dạy hiệp thông và ngôi nhà cho hiệp thông cư ngụ” với tất cả hàm ý có liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống Kitô, ngay cả việc cải cách về cơ chế.[11] Đó là cũng là điều mà Vatican II muốn minh định ngay trong đoạn mở đầu của Hiến Chế về Giáo Hội: “Trong Đức Kitô, Giáo Hội một cách nào đó, là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và phương tiện kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và hiệp nhất với mọi người … Nhân loại mà ngày nay đã liên kết với nhau hơn nhờ những liên hệ xã hội, kỹ thuật và văn hóa, cũng cần phải thực hiện sự hiệp nhất trọn vẹn trong Đức Kitô”.[12]
Thực tế lịch sử đã cho thấy Giáo Hội luôn đổi mới chính mình cũng như canh tân phương thức để cho sứ vụ loan báo Tin Mừng không bao giờ bị gián đoạn. Nếu bản chất của Giáo hội là hiệp thông, thì có thể nói, hiệp thông tự bản chất là truyền giáo, là truyền bá Phúc Âm. Như tất cả sứ vụ của Đức Kitô là hiến dâng mạng sống mình để chúng ta được nên một. Có thể nói như một tác giả hiện đại: “Điều rõ ràng là chỉ khi nào dân Thiên Chúa tự quy tụ lại với nhau thành một và đồng tâm nhất trí với nhau, lúc đó mới có thể thuyết phục được thế giới”. [13]Và như thế, Giáo Hội chỉ thực sự là một Thân Mình, khi Giáo Hội xác tín rằng mình đang được sai đi, tiếp nối Đức Giêsu Kitô đến với mọi người để xây dựng tình hiệp thông. Vì chưng “điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi” (1Ga 1:3). Giáo Hội là dấu chỉ, là khí cụ, là người loan báo sự hiệp thông và qua hiệp thông diễn tả sự duy nhất của đức tin, để thế giới có thể tin (Ga 17: 21). Do đó, Giáo Hội không chỉ nói về Đức Kitô, mà còn “chỉ cho thấy” Người nữa (Ga 12:21). Chính nhờ vậy, Giáo Hội trở thành một địa điểm hội ngộ, hay một “Sân Chư dân” hiện đại theo kiểu nói của Đức Bênêđictô XVI, một không gian cho mọi người “muốn xem” và được mời gọi “đến mà xem”, đến để nhận biết và gặp gỡ Đức Kitô, để hoà hợp với Thân Mình của Người, đón nhận tình yêu và ơn cứu độ hiệp nhất của Thiên Chúa.
Một Cộng Đồng Vượt Qua loan báo Tin Mừng Phục Sinh
Mặt khác, với tư cách là Thân Mình Đức Kitô, Giáo Hội tưởng niệm và cử hành trong lịch sử Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người. Chính trong “ký ức sống động”(Anamnesis) này mà cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, như một biến cố cứu độ độc nhất và vĩnh viễn, trở thành “đồng thời” với cộng đồng cử hành. Như thế, Giáo Hội “đảm nhận các mầu nhiệm của cuộc đời Người, hiệp thông với những đau khổ của Người như thân thể hiệp thông với Đầu, cùng chịu đau khổ với Người, để cùng được tôn vinh với Người”.[14] Như trong Kinh Nguyện Tạ Ơn: “Xin thương cho tất cả những ai cùng chia sẻ một tấm bánh và một chén rượu này, được Chúa Thánh Thần liên kết thành một thân thể, và trở nên hy lễ sống động trong Đức Ki-tô để ca tụng Cha vinh hiển”.[15]Thật vậy, trong ý nghĩa “dâng lên” (Anaphora) của mọi lời Chúc Tụng, Giáo Hội được mời gọi dự phần vào số phận cũng như chia sẻ sứ mạng cứu thế của Đức Kitô. Vì Người “đứng hàng đầu trong mọi sự” (Cl 1:18), là Đấng Vượt Qua và Giáo Hội là các chi thể, nên hiện hữu của Giáo Hội cũng là một hiện hữu “Vượt Qua”, tham dự vào hành trình vượt qua từ sự chết đến sự sống. Là “Đầu” của toàn Thân Mình, Đức Kitô trở thành nguyên lý và là chuẩn mẫu tối hậu cho tất cả đời sống và sứ vụ của Giáo Hội. Vì thế, sự hiệp thông với Đức Kitô làm sáng tỏ hai chiều kích của bổn phận truyền bá Phúc Âm: đó là rao giảng dưới bóng Thập Giá và loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Sống đức tin và thông truyền đức tin trở nên một kinh nghiệm duy nhất. Rao giảng Tin Mừng đồng nghĩa với loan báo Đức Kitô chịu đóng đinh và Phục Sinh “cho tới ngày Người lại đến” (1 Cr 11:26).
Trước hết, là Thân Mình của Đức Kitô tử nạn, Giáo Hội là một cộng đồng được sinh ra dưới chân Thập Giá, đi theo Thập Giá và rao giảng về Thập Giá (1 Cr 1:18). Thật vậy, qua trình thuật của Tin Mừng, chúng ta nhận ra tất cả cuộc đời của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, đều quy hướng về Thập Giá. Vatican II đã mượn quan điểm của Augustinô để khẳng định: “Chính từ cạnh sườn của Đức Kitô yên nghỉ trên Thập Giá, đã phát sinh ra bí tích huyền diệu là Giáo Hội toàn thể”.[16] Trong Đức Kitô bị đóng đinh mà Thiên Chúa hoàn tất “kế hoạch yêu thương đã định từ trước”, đó là “qui tụ muôn loài trong trời đất” (Ep 1:9-10). Có thể nói, đây là một trong những khía cạnh nghịch lý, nhưng độc sáng nhất của mạc khải Kitô giáo mà dường như không ai dám chờ đợi, thậm chí không thấy trong quan niệm của các tôn giáo. Như thế, Thiên Chúa của người Kitô hữu đã tự khải, tự tỏ hiện cách mãnh liệt, sâu thẳm và trọn vẹn nhất ngay trong những yếu đuối, khổ đau và cái chết, nghĩa là dưới những hình thái hoàn toàn xa lạ, ngay cả “đối nghịch” với những gì là thần linh siêu phàm (1 Cr 1:18-25). Tư tưởng của Thập Giá vốn là “điên rồ” và “ô nhục” dưới những con mắt trần gian, ngay cả đối với những cố gắng “hợp lý hoá” thập giá của con người trong lịch sử. Nhưng đó lại là “khôn ngoan” của Thiên Chúa (1 Cr 2:6-16; 14:18). Như chính Phaolô đã cảm nghiệm:“Thưa anh em, khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2:1-2).
Trong ý nghĩa đó, nỗ lực loan báo Tin Mừng của Giáo Hội chắc hẳn không phải là công trình của những tâm trạng đắc thắng, hãnh tiến, chinh phục hay chiêu dụ tín đồ, nhưng là làm cho Phúc Âm về sự đau khổ của Thiên Chúa được sống động và hiện diện trong thế giới cách mới mẻ. Nơi nào Cộng Đồng tín hữu biết kết hợp chính mình “với cuộc Vượt Qua của Đức Kitô”, và trở nên giống như Người trong mọi nỗi gian truân, thiếu thốn, bị bách hại mà vẫn kiên vững trong niềm tin, nơi đó Tin Mừng sẽ được chiếu toả như hương thơm ngào ngạt (Ep 5:2), vì “Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã tỏ cho thấy, Người cùng với Hội Thánh mà Người đảm nhận, là một người duy nhất” (Gl/ 795).[17] Hơn nữa, trong Mầu Nhiệm Vượt Qua, lịch sử của những nỗi khổ đau của nhân loại cũng là lịch sử của Đấng Vượt Qua. Người hiện diện với con người trong các khổ đau ấy, để vượt qua mọi đau khổ và giúp con người khám phá ra giá trị cao cả của các đau khổ được hiến dâng trong tình yêu. Chỉ có tình yêu mới đem lại ý nghĩa và hướng đi cho đau khổ. Phải chăng bỏ qua Thập Giá là đánh mất bản chất của Kitô giáo.[18] Thập Giá trở thành Tin Mừng về sự đau khổ của Đấng đã yêu thương con người “như thế đó” (Ga 3:16) vì đã gánh lấy mọi khổ đau và biến khổ đau thành của mình.
Thứ đến, Giáo Hội rao giảng Phúc Âm dưới bóng Thập Giá còn có nghĩa là một cộng đồng nghèo khó lắng nghe tiếng kêu cứu của người nghèo khổ, những ai bị bỏ rơi và cô thân cô thế của thế giới như “tiếng kêu của Thiên Chúa”. Đó là một cộng đồng làm trổ sinh hoa trái nhờ bổ khuyết “trong thân xác mình những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu” (Cl 1:24), và như thế có khả năng làm cho những người khôn ngoan, quyền thế trần gian phải bẽ mặt. Như Đức Kitô chịu đóng đinh, Giáo Hội đi tới tận cùng sự nghịch lý của cuộc đời và không ngần ngại đồng hóa mình với tất cả những ai vô tội bị trao nộp cách bất công, bị đóng đinh trong lịch sử (Mt 25:35-40; Cv 9:4). Không một tình huống nào, nhất là trong đó có sự tha hoá vì lầm than nghèo đói, bị áp bức, bị loại trừ và khinh chê mà Giáo Hội lại có thể tỏ ra xa lạ hững hờ. Giáo Hội hiện diện đích thực cũng như đích thân liên đới với những con người ấy. Giáo Hội nhất thiết là một Cộng Đồng dấn thân phục vụ “tình yêu và công lý” để giao hoà “công lý với tình yêu”, không vì tìm kiếm lợi lộc như những kẻ có quyền lực của thế gian, nhưng đứng về phía người bé mọn, nhân danh sự tự do của mình, không thoả hiệp, nhưng lên tiếng trước các thế lực bóc lột khai thác con người. Bởi vì Giáo Hội cũng luôn bị bách hại vì muốn sống triệt để Tin Mừng (Mt 10:16, 18,19, 20), và bị ngược đãi bởi những thế lực đối nghịch với Tin Mừng Thập Giá (Pl 3:18). Nhưng thiết nghĩ, lời rao giảng về Thập Giá lại cho chúng ta thấy chính trong sự nghèo khó, yếu đuối và bóng tối khổ đau của thế giới mà Giáo Hội tìm gặp Thiên Chúa cũng như chân tính của mình.
Như vậy, khi loan báo Tin Mừng dưới dấu chỉ Thập Giá, Giáo Hội đồng hành với con người trong mọi trạng huống, dâng lên Thiên Chúa những lời van xin đầy nước mắt của những cuộc đời không được nhìn nhận hay bị đẩy ra ngoài lề cuộc sống giữa một thế giới còn hằn sâu bóng tối của sự chết và lòng ích kỷ. Có thể, như Đấng bị “đóng đinh”, Giáo Hội bị “bó tay”, chẳng làm được gì đi nữa, chỉ biết tin mà không thấy, chiến đấu trong niềm hy vọng, nhưng không đạt được kết quả trước mắt. Trong tình cảnh như thế, dựa vào khía cạnh “khôn ngoan và điên dại” của Thập Giá Đức Kitô, có thể chính những bàn tay bị “đâm thủng”, trái tim bị “đâm thâu”, hay con người bị “giương lên trên Thập Giá” lại có thể rao giảng Tin Mừng chân thực hơn, có sức mạnh “lôi kéo mọi người” hơn, vì chẳng còn điều gì “khả tín” khác ngoài Tình Yêu và Thiên Chúa. Phải chăng có một cách thức rao giảng, tuy cổ xưa, nhưng vẫn còn hữu hiệu, đó là tình yêu: “nhẫn nhục, hiền hậu…không tự đắc…nhưng vui khi thấy điều chân thật…tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13:4-7). Và như vậy, chỉ có tình yêu mới đáng tin. Đây cũng là quan điểm của Đức Bênêđíctô XVI, lúc còn là Bộ trưởng Thánh bộ Giáo lý Đức tin, về truyền bá Phúc Âm với cách thức mới:“Đức Giêsu đã không cứu độ thế giới bằng những lời có cánh, nhưng bằng chính cuộc khổ nạn và cái chết của Người. Cuộc khổ nạn mang cho Lời của Người sức mạnh. Lời được gieo vào lòng đất phải chết đi mới trổ sinh bông hạt, đó là điều căn bản cho Tân Phúc Âm hóa”.[19] Ở đây, chúng ta có thể thấy cuộc đời rao giảng của Phaolô là một chứng từ rất đáng suy nghĩ, vì “sự thành công trong sứ vụ của người không phải nhờ vào tài hùng biện hay khả năng mục vụ khôn khéo; nhưng những hoa trái đó gắn liền với những đau khổ, trong sự liên đới với cuộc khổ nạn của Đức Kitô” (1 Cr 2:1-5; 2Cr 11:30; Gl 4:12-14). Nghịch lý thay, biết đâu chính những tình huống khó khăn, đầy thách đố, nơi có sự chống đối Tin Mừng và ngược đãi với người rao giảng lại là mảnh đất chờ đợi Tin Mừng được rao giảng cách mới mẻ, sẽ đâm rễ sâu và trổ sinh nhiều hoa trái. Qua bao thế kỷ, lời của Giáo Phụ Tertulianô vẫn còn hữu lý và đáng trân quý: “Máu của các vị tử đạo là hạt giống nảy sinh ra người Kitô hữu”. Như vậy truyền bá Phúc Âm có nghĩa là dự phần vào số phận của người Tôi Tớ đau khổ của Thiên Chúa.
Thế nhưng, tiếp theo lời rao giảng về cuộc khổ nạn của đức Kitô là lời loan báo mà thế giới không thể ngờ được: “Con Người sẽ sống lại” (Mc 8:31;9:31; Mt 16:21; Lc 9:22). Nếu cái chết là tiếng nói cuối cùng của lịch sử Đức Giêsu Kitô, thì quả thật không còn gì để rao giảng. Mọi nỗ lực tiếp nối Người công trình cứu độ và hiệp nhất muôn người, nói cho cùng đều vô vọng, nếu không muốn nói là vô nghĩa. Phục Sinh cho thấy ý nghĩa cứu độ và vinh quang của Thập Giá. Như câu nói mạnh bạo của Phaolô:“Nếu Đức Kitô không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi là trống rỗng, và cả đức tin cũng trống rỗng” (1 Cr 15:14-15). Vì vậy, lời rao giảng của Giáo Hội luôn duy trì cùng một lúc ngôn từ của Thập Giá và sứ điệp Phục Sinh. Đây có thể nói là trương lực tạo nên sức năng động của niềm tin Kitô giáo. Chính Thập Giá là mạc khải về một tình yêu “cho đến cùng” (Ga 3:16; 13:1), mãnh liệt nhất, “mạnh mẽ hơn cả tử thần” (Dc 8:6), và như thế nói lên chiến thắng quyết định, trọn vẹn của quyền lực Sự Sống trên Sự Chết. Đó là lý do khiến Phaolô đã lấy mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô làm khởi điểm và tâm điểm cho ý nghĩa của lời rao giảng về Thập Giá: “Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc Thương Khó của Đức Giêsu, để sự sống của Người được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2 Cr 4: 8-10). Đây cũng là hướng nhìn của Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội: “Ðang khi còn là lữ hành trên mặt đất, bước theo vết chân Người trong đau thương và bách hại, chúng ta cùng thông hiệp với những đau khổ của Người như thân thể kết hợp với đầu, với sự thương khó của Người để được cùng Người vinh hiển”. [20]Thật vậy, là Thân Mình Vượt Qua của Đức Kitô, Giáo Hội “cùng chịu chết” với Người, ngõ hầu được “cùng Người trỗi dậy” (Rm 6:7) và làm chứng nhân cho Tin Mừng Phục Sinh.
Có thể nói, sự phục sinh vừa là biến cố xảy ra nơi Đức Kitô, đồng thời vừa là biến cố xảy ra nơi các môn đệ, vì chính biến cố đó đã trở nên sứ điệp làm biến đổi tận căn con người và cả cuộc sống của những kẻ tin vào Người. Giáo Hội luôn xác tín rằng những gì Đức Kitô Phục Sinh đã hứa đều nhờ Thần Khí mà được thực hiện nơi Thân Mình của Người. Vì khi làm cho Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, Thiên Chúa “đã đặt tất cả dưới chân Người và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1:22-23). Trong viễn tượng này, loan báo Tin Mừng Phục Sinh là thông truyền kinh nghiệm sống động về Đức Kitô (1Cr 15). Đó là kinh nghiệm gặp gỡ tiếp xúc với Đấng Phục Sinh đang sống, đang hiện diện và tác động lên hiện tại nơi Thân Mình Giáo Hội. Người “là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại” (Cl 1:18). Việc “Phục sinh từ trong cõi chết” như thế, không chỉ dọi ánh sáng vào quá khứ nhưng còn mở ra một thực tại mới mẻ, một tương lai cứu độ cánh chung là hiệp nhất mọi người vào trong một Thân Mình. Các tín hữu sơ khai đã trở thành chứng nhân về cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh, một gặp gỡ luôn ghi dấu trong đời họ như là gặp được tình yêu và sự sống đích thực. Sự sống và tình yêu mà các tín hữu đã lãnh nhận chính là Thần Khí và ơn tha thứ của Đức Kitô Phục Sinh. Người là Đấng mở đường khai lối, sát nhập họ vào Thân Mình của Người, và làm cho họ được tái sinh, đuợc sống bằng sự sống mới là chính sự sống tròn đầy trong tình yêu hiệp nhất với Người. Vì thế, họ vui mừng chịu đựng mọi thử thách vì Tin Mừng, “lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giê-su”(Cv 5:41). Không một quyền lực thế gian nào có thể dập tắt được sức sống và niềm vui của tình yêu hiệp nhất đó. Họ “chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng... Họ đồng tâm nhất trí... với lòng đơn sơ vui vẻ... ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ”(Cv 2: 42-47).
Nếu như thế, lời rao giảng của Giáo Hội, được biến cố Phục Sinh bảo đảm, chỉ có thể được diễn tả dưới hình thái “khả tín” như một sứ điệp đem lại niềm vui chứ không phải nỗi buồn, lời của ân sủng chứ không phải tội lỗi, của tình yêu thứ tha chứ không phải đe doạ hận thù, của sự sống chứ không phải sự chết, vì con người luôn vĩ đại hơn những khổ đau trong đời và không nhất thiết phải kết thúc trong bất công khổ sầu. Dù thế nào đi nữa, cách thức rao giảng hữu hiệu nhất vẫn là cách thức của tình yêu, nhất là tình yêu thông hiệp vào sự sống của Đấng đã “hiến dâng” mạng sống mình để mở ra con đường cứu độ, chữa lành và giải thoát nhân loại. Vì là Đấng Phục Sinh, Người không thuộc về quá khứ, nhưng là hiện tại hôm nay, đang sống và hoạt động nơi Thân Mình của Người. Vậy nếu Mầu Nhiệm Vượt Qua là lịch sử của Đức Kitô, thì đó cũng là lịch sử của Giáo Hội dấn thân trên hành trình truyền bá Phúc Âm. Là “Đấng Sáng Lập,” là vị “Thủ Lãnh”, “Đấng khơi nguồn sự sống” (Cv 3:15), Đức Kitô đã tự hiến chính mình cho các chi thể được sống và trở nên Thân Mình biết hiến dâng tình yêu và sự sống cho mọi người. Và điều này đem lại nhiều hệ quả quan trọng cho sứ mạng của Giáo Hội trong thế giới hôm nay: vui mừng và hy vọng.
Một Cộng Đồng Cánh Chung loan báo Lễ Hội Nước Thiên Chúa
Một hình ảnh thích hợp nữa được sử dụng để diễn tả tương quan mật thiết giữa Đức Kitô và Giáo Hội, giữa “Đầu” với các chi thể là hình ảnh hôn ước (Ep 5:22-23). Chính Đức Kitô cũng đã tự ví mình như “Chàng Rể” (Mc 2:19; Mt 22:1-14; 25:1-13). Và Thánh Phaolô trình bày Giáo Hội, mỗi thành phần của Thân Mình, như là “Hiền Thê” được kết hôn với Đức Kitô, trở nên một Thần Khí với Người (Gl, 796). Là Hiền Thê, Giáo Hội cũng là “Tân Nương” tinh tuyền của “Con Chiên vẹn tuyền” (Kh 19:7; 21:2-9; 2217-21; Ep 1:4; 5:27), được Người trang điểm lộng lẫy, yêu thương và hiến dâng mạng sống để “thánh hoá và thanh tẩy” (Ep 5:26) bằng một giao ước bền vững đến muôn đời (Ep 5:29). Chính vì thế, Đức Kitô là nguồn vui của Giáo Hội, là Phu Quân, Đấng mà Giáo Hội chờ mong trong niềm hy vọng cánh chung: “Thần Khí và Tân Nương nói: Xin hãy ngự đến”. Và Đấng làm chứng cho những điều đó phán rằng: “Phải, chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến” (Kh 22:17, 20). Như vậy, Giáo Hội là một Cộng Đồng cánh chung cho thấy trước Lễ Hội Nước Thiên Chúa.
Trước hết, sứ mạng của Giáo Hội là loan báo Nước Thiên Chúa đã khởi đầu nơi chính bản thân, cuộc đời, và sứ vụ của Đức Giêsu Kitô, như một thực tại đang triển nở giữa lòng thế giới. Qua cái chết và sự Phục Sinh của Người, ơn cứu độ trở thành “hiện tại” cho Giáo Hội sống trong thời gian xen kẽ những gì đã được thực hiện và những gì sẽ được hoàn tất vào ngày Người ngự đến. Đó là “Ngày của Chúa”, ngày Lễ Hội cánh chung, không phải như một thời điểm kết thúc mọi sự, nhưng như một cuộc biến đổi hoàn vũ, mang đến ý nghĩa cho tất cả lịch sử nhân loại. Hiến Chế về Giáo Hội đã khẳng định:“Như thế thời đại cuối cùng đã đến với chúng ta rồi vậy (1Cor 10,11). Việc canh tân thế giới được thiết lập một cách bất khả phục hồi và thực sự đã bắt đầu một cách nào đó ngay từ bây giờ vì Giáo Hội đã được trang điểm bằng sự thánh thiện đích thực, tuy chưa hoàn toàn. Dù vậy, cho tới khi có trời mới và đất mới, nơi công lý ngự trị (2P 3,13), Giáo Hội lữ hành mang khuôn mặt chóng qua của đời này, qua các bí tích và định chế là những điều thuộc thời đại này. Và Giáo Hội vẫn sống giữa các thụ sinh tới nay còn rên siết và quằn quại trong cơn đau đớn lúc sinh con, và mong đợi con cái Thiên Chúa xuất hiện (Rm 8,19-22)”.[21]
Trong viễn tượng đó, cùng với những cơ cấu và định chế của mình, Giáo Hội là chứng nhân và chứng từ của Nước Thiên Chúa, trở thành con đường của Đức Kitô hiện diện và hoạt động giữa lòng thế giới, để dẫn đưa con người đến với sự sống và sự thật, nhằm giải thoát con người. Bởi vậy, như bí tích cứu độ phổ quát giữa nhân loại và để hoàn thành sứ mạng truyền bá Phúc Âm của mình, Giáo Hội không những phải am hiểu về đức tin Kitô giáo mà còn thực sự nhạy cảm, mở lòng ra với tất cả những gì liên quan đến con người, làm sao để thông truyền đức tin cho con người của thế giới hôm nay. Khi rao giảng Tin Mừng, Giáo Hội vừa nhìn nhận giá trị tích cực của cuộc sống nhân sinh, vừa nhận ra trách nhiệm của mình đối với trần thế, để kiện toàn những gía trị nhân bản, can đảm tố giác tội ác, những gì ngăn cản hoạt động đổi mới của Thần Khí, và hướng mọi tình huống sống của con người tới cùng đích là Nước Thiên Chúa, như lời của Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng:“Thực vậy, sau khi đã theo mệnh lệnh Chúa và nhờ Chúa Thánh Thần phổ biến trên trái đất các giá trị về nhân phẩm, về hiệp thông huynh đệ và tự do, nghĩa là mọi thành quả tốt đẹp do bản tính và hoạt động con người đem lại, chúng ta sẽ gặp lại chúng, nhưng là gặp lại sau khi chúng được thanh tẩy khỏi mọi tì ố, được chiếu sáng và biến đổi, nghĩa là khi Chúa Kitô giao hoàn lại Chúa Cha vương quốc vĩnh cửu và đại đồng: “Vương quốc của chân lý và sự sống, vương quốc thánh thiện và diễm phúc, vương quốc công bình, yêu thương và bình an” Vương quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa đến”.[22]
Hơn nữa, Giáo Hội ý thức mình không phải là Nước Thiên Chúa, nhưng là “hạt giống” của Nước Thiên Chúa, là “Nước Thiên Chúa hiện diện trong mầu nhiệm”.[23] Ý thức về chiều kích thời gian của mình, Giáo Hội lữ hành về đất hứa, sẵng sàng trung thành chờ màn đêm qua đi cho ngôi sao cứu độ muôn dân toả chiếu. Là “Hiền Thê” yêu quý của Đức Kitô, Giáo Hội không phải như một bà lão đã đạt tới đích điểm, chỉ bằng lòng với việc lập lại quá khứ hay tiếc nuối, tái khẳng định thuở vàng son, nhưng thực sự như một thiếu nữ trẻ trung còn đang được trang điểm trên đường về quê. Vì thế, Giáo Hội nhận thức được điều kiện “lên đường” và tình trạng “vượt qua” của mình. Với phương châm:“Ecclesia semper reformanda”, Giáo Hội thường xuyên canh tân, thay đổi cách hiện diện, nếp sống, lối suy tư, phương thức hành động, để luôn được thanh tẩy trong Đức Kitô (Ep 4:23). Đó cũng là sự hoán cải trong Giáo Hội, là bước đầu tiên của nhiệm vụ truyền bá Phúc Âm, dựa theo quan điểm của Đức Bênêđíctô, nghĩa là “chất vấn chính cuộc sống của mình”, là “ra đi khỏi sự tự mãn để khám phá ra và chấp nhận thân phận nghèo nàn của chúng ta trước những thiếu thốn của người khác, và đón nhận từ Đấng khác tình bằng hữu và ơn tha thứ của Người”.[24] Thế nên, Giáo Hội vừa trung thành với điều đã hoàn tất, vừa không ngừng vươn tới mức thành toàn viên mãn của khuôn mặt Đức Kitô như tương lai cánh chung của mình (Cl 1:19; Eph 3:8). Cũng như trong hướng nhìn của Vatican II, ý thức lịch sử là điều đáng quan tâm: “Với bổn phận phải lan rộng khắp thế giới, Giáo Hội đi sâu vào lịch sử nhân loại. Tuy nhiên Giáo Hội đồng thời cũng vượt thời gian và biên giới các dân tộc. Tiến bước giữa cơn cám dỗ và đau thương, Giáo Hội vững mạnh nhờ ơn Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã hứa ban, hầu Giáo Hội vẫn hoàn toàn trung tín, sống như một Hiền Thê xứng đáng của Chúa mình, dầu xác thịt yếu hèn, và không ngừng tự đổi mới dưới tác động của Chúa Thánh Thần cho đến ngày, nhờ thánh giá, đạt đến ánh sáng không hề tắt”.[25]
Như vậy, đứng trước vấn đề loan báo Tin Mừng cách thức mới, Giáo Hội luôn nhớ đến cứu cánh tương lai, nắm bắt những dấu chỉ thời đại hiện nay của lịch sử, để hướng lòng về sự mới mẻ đang đến. Cùng lúc tâm thức lịch sử bừng dậy đòi buộc Giáo Hội phải có khả năng đối diện với những câu hỏi không ngừng mới mẻ, với những lối suy tư, tiếp cận khác về con người, và chính qua những câu hỏi như thế mà đức tin của Giáo Hội mới có thể được thông truyền cách mới mẻ và sống động. Đó là cơ hội để Giáo Hội đối thoại, đối chất, và nhất là để chứng thực cho niềm tin. Giáo Hội không thể đoan chứng cho Tin Mừng mà không đồng thời lưu tâm đến những vấn nạn, lắng nghe những thao thức của con người trong chính tình huống hôm nay của cuộc sống. Như lời Đức Gioan Phaolô II trong Thông Điệp Redemptoris Missio:“Giáo Hội phục vụ Vương Quốc của Thiên Chúa bằng việc lan truyền khắp thế giới "các giá trị Phúc Âm", là biểu hiện Vương Quốc này và là những gì giúp cho con người chấp nhận dự án của Thiên Chúa. Thực tại sơ khởi về Vương Quốc Thiên Chúa thật sự cũng có thể được thấy bên ngoài giới hạn của Giáo Hội, ở các dân tộc khắp nơi, qua việc họ sống "các giá trị Phúc Âm" và cởi mở trước hoạt động của Thần Linh, Đấng thổi lúc nào và ở đâu tuỳ ý Ngài (Ga 3:8).[26] Tất nhiên, không một thủ đắc, một thành công hay vinh quang trần thế nào mang mầu sắc khoa trương chiến thắng có thể làm cho Giáo Hội ngây ngất quên đi lý do hiện hữu của mình là mở rộng Nước Thiên Chúa, đồng thời là dọn đường, chuẩn bị cho Ngày Đức Kitô, Đấng Phu Quân của mình ngự đến trong vinh quang.
Sau hết, trong viễn tượng loan báo Lễ Hội Nước Thiên Chúa, Giáo Hội đi sâu trong lịch sử để mang đến niềm hy vọng cho thế giới. Vì mục đích tối hậu của mình, Giáo Hội biết tương đối hóa mọi thành quả vĩ đại của thế giới, những tiến bộ trong lãnh vực khoa học kỹ thuật mà lại chẳng đi đôi với sự tiến bộ trong lãnh vực đào luyện đạo đức con người. Chính ở đây, Giáo Hội nhận thức được bước theo Đức Kitô rao giảng Tin Mừng là đảm nhận lịch sử, quan tâm đến mọi tình huống và tâm thức con người giữa một thế giới không ngừng chuyển biến, làm sao để phát hiện ra nỗi khát vọng ẩn sâu bên dưới những thái độ, cách ứng xử, và lối sống xem ra vẻ đầy đủ tiện nghi, sung túc, hưởng thụ, buông thả theo những hào nhoáng bên ngoài, thậm chí đến mức ngán ngẩm vô nghĩa. Và hệ quả là con người có nguy cơ mất hướng, chạy trốn chính mình trong những náo động bên ngoài, từ đó dửng dưng với tiếng kêu cứu của người nghèo, vô cảm với những người bất hạnh, bị hất hủi, bị từ chối những nhu cầu cơ bản cần thiết cho một cuộc sống xứng đáng với phẩm giá. Phải chăng, thái độ, lối sống thực dụng, duy lợi nhuận hiện thời theo trào lưu tục hoá như thế, lại để lộ cho thấy tình trạng “chán sống” hay hiện tượng “không biết sống” của nền “văn hoá sự chết”? Có tất cả mà không có gì cả. Biết đâu đây chẳng phải là những hình thái của sự thiếu thốn tâm linh hay mặt trái của sự phủ nhận nhu cầu siêu việt nơi con người? Trước thực trạng đó, loan báo Tin Mừng là đưa ra ánh sáng những nỗi lo âu, những cơn đói khát về ý nghĩa, về thân phận, cũng như về điều tuyệt đối, về một cuộc sống không chỉ sống nguyên nhờ “cơm bánh”. Thật vậy, con người tự thâm sâu vẫn luôn cần một lẽ sống vô biên và tối hậu, thiết thân và bao trùm, như là nền tảng vững chắc cho tất cả cuộc sống của mình.[27] Rao giảng Tin Mừng là nhận ra được những dấu chỉ của niềm hy vọng về lẽ sống, về mục đích và cùng đích đời người, ngõ hầu có thể đem đến câu trả lời của đức tin, làm sáng tỏ đức tin như là lời đáp thoả đáng cho những khát vọng căn bản của con người và thời đại. Vấn đề ở đây chính là khả năng rao giảng một cách mới mẻ, đáp ứng lại những nhu cầu tâm linh thực sự của con người, làm sao để chứng tỏ đức tin không làm “tha hoá” bản chất con người, nhưng ngược lại, là Tin Mừng hiện thực nỗi khát vọng tìm kiếm sự triển nở, hoàn thành bản chất của con người và đạt tới sự sống tròn đầy sung mãn (Ga 10:10; 20:31).
Do đó, Giáo Hội là bí tích của niềm hy vọng cánh chung, mang đặc tính vừa “thần linh” vừa “nhân loại”. Giáo Hội nhập thể, nhập cuộc vào thế giới lịch sử, sống hiệp thông như một “Cộng Đồng tín hữu” để cứu độ và hoà giải con người với nhau, đồng thời cũng vượt qua lịch sử thế giới như “Hiền Thê” cánh chung của Đức Kitô, luôn vươn lên tìm kiếm những phúc lộc của Nước Thiên Chúa. Vì “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Chúa Thánh Thần” (Rm 14:17), niềm hy vọng của Giáo Hội chủ yếu được biện minh trong thực hành, trong sự dấn thân cách trung thực vào những hoạt động cứu độ thế giới, nhằm giải thoát con người khỏi những gì chỉ là giả tạo của trần thế, những ngẫu tượng mới và vong thân văn hóa. Giáo Hội tích cực tham dự vào lịch sử để giới thiệu giá trị cứu độ và ban sự sống của Tin Mừng trong những bối cảnh của văn hoá, kinh tế và xã hội khác nhau. Tuy nhiên, nhân danh những thực tại tối hậu của mình, Giáo Hội không đồng hoá với bất cứ một ý thức hệ, một đảng phái chính trị, một hệ thống kinh tế nào. Giáo Hội là lương tâm phê phán lịch sử, vừa rao giảng cho nhân loại về nguồn gốc và cứu cánh của mình, vừa sẵn sàng cộng tác với mọi người nhằm thăng tiến phẩm giá của con người và xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Như được “kết hôn” với Đức Kitô, Giáo Hội hướng lòng về trời cao, chờ mong Lễ Hội Nước Thiên Chúa, nhưng không lạc mất lối về cuộc đời, bởi vì Giáo Hội mang lấy những hy vọng của nhân loại, đồng thời xác nhận những hy vọng đó dựa vào ánh sáng của Tin Mừng. Nỗ lực rao giảng của Giáo Hội ở đây là làm sao cho thấy niềm hy vọng Kitô giáo có thể mở cho con người cơ hội hiểu biết hơn ý nghĩa về cuộc sống, nhất là về một cuộc sống mà cả sự chết cũng không làm gì được, để có thể sống đúng với phẩm giá đích thực của mình. Nói theo hướng nhìn của Vatican II, cũng như quan điểm của Đức Bênêđíctô XVI, niềm tin vào Thiên Chúa và niềm hy vọng vào đời sống vĩnh hằng không “làm cho cuộc sống trần gian này ra vô nghĩa. Nhưng ngược lại, chỉ khi mà chiều kích của đời sống là vô tận, thì cuộc sống của chúng ta trên trần gian này mới tuyệt vời và vô giá. Thiên Chúa không phải là đối thủ, nhưng là Đấng bảo đảm tuyệt vời cho sự sống của chúng ta. Như thế chúng ta trở lại điểm xuất phát đó là chính Thiên Chúa”, và thực ra, “sứ điệp Kitô giáo rất đơn giản: chúng ta nói về Thiên Chúa và con người, và bằng cách này chúng ta nói về tất cả mọi sự”.[28] Trong ý nghĩa đó, niềm hy vọng siêu việt của Giáo Hội, có thể nói, là làm sống lại những niềm hy vọng tự nhiên của con người, nhất là của những người cùng khốn, những ai đang là tù nhân của tội lỗi, sự dữ, sự ác, và cả sự chết. Lý chứng về Nước Thiên Chúa, tuy có làm cho Giáo Hội trở thành lữ khách, nhưng không phải là một viễn mơ xa rời thực tế, mà là một động lực thúc đẩy bổn phận đồng hành và phục vụ thế giới, góp phần thực hiện khát vọng hướng tới cuộc sống bình an và hạnh phúc, như thế cũng là chuẩn bị cho vinh quang của Nước Thiên Chúa, vinh phúc cho con người mà Thiên Chúa hứa ban.
2. PHƯƠNG THỨC LOAN BÁO TIN MỪNG TRONG THỜI ĐẠI HÔM NAY
Từ những suy tư trên, có thể nói, lời mời gọi loan báo Tin Mừng theo phong cách mới tỏ ra cấp bách hơn bao giờ hết. Chúng ta cần tìm hiểu tâm thức của con người đang sống trong một thời kỳ lịch sử rất đặc biệt với nhiều đổi thay, căng thẳng, lo âu, mất cân bằng, mất phương hướng và đầy những hoài nghi. Vì thấm nhuần chủ nghĩa tục hoá, con người dường như sống chìm ngập trong những hưởng thụ hiện tại và toan tính nhất thời. Nhưng để có thể trả lời cho những thách đố đa diện của thời đại, có lẽ Giáo Hội phải dấn thân trên nhiều con đường khác nhau, để Tin Mừng đích thực là lời đáp cho mọi người, cho tất cả lịch sử. Giáo Hội “luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng”của mình. Nhưng “phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng” (1 Pr 3:15-16). Dựa theo những phân tích, những định hướng của Thượng Hội Đồng Giám Mục trong bản Đề Cương, chúng ta cố gắng tổng hợp và gợi ra những cách thức, phương pháp, hay ngôn ngữ mới để diễn tả và rao giảng Phúc Âm. Chúng ta tìm kiếm những mảnh đất chung như những “Sân Chư Dân”, những “Đấu Trường” hiện đại, những chân trời, nhưng lối đường mới hoặc làm mới lại những cách thức “hộ giáo”, để hy vọng có cuộc gặp gỡ đối thoại giữa Giáo Hội và con người, giữa những khát vọng của con người hiện đại với Tình Yêu của Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.
Đức Tin, Văn Hoá và Nghệ Thuật
Con người của thế giới hôm nay, có thể nói, rất nhạy bén về mối tương quan giữa đức tin, văn hoá và nghệ thuật. Sự nối kết đó là một lối đường rất quan trọng. Con người, từ muôn thuở, với những sắc thái văn hoá khác biệt, đều yêu chuộng nghệ thuật. Tuy văn hoá là một khái niệm mang nhiều hàm ý sâu rộng với những cách hiểu khác nhau như hoạt động sáng tạo, thái độ, lối sống, cung cách ứng xử, trình độ học vấn, văn học, thơ ca, mỹ thuật, sân khấu điện ảnh, âm nhạc, nhưng tựu trung, tất cả đều liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của con người. Văn hoá có thể được hiểu như là tổng thể các giá trị làm nên con người, do con người sáng tạo trong quá trình lịch sử. Nói cho cùng, theo các tài liệu sử học, thì từ cổ xưa văn có nghĩa là “đẹp” (cái đẹp hay vẻ đẹp) và hoá có nghĩa là làm thay đổi, làm cho con người trở nên tốt đẹp, hoàn thiện hơn.[29] Vì thế, nói theo kiểu của Augustinô: “Chúng ta chỉ yêu cái gì đẹp” (Non possumus amare nisi pulchra).[30] Con người luôn bị hấp dẫn, rung động bởi vẻ đẹp vì lòng đã tiềm ẩn khát vọng cái đẹp. Như Tôma Aquinô cũng đã nhận định: “điều gì đẹp là điều hễ nhìn thấy là yêu thích”, [31]bởi vì cái đẹp thuộc về bản chất đời sống tâm linh của con người, và từ trong sâu thẳm, liên hệ đến việc tìm kiếm những gì là chân thật cũng như thiện hảo. Dostoevsky có một quan điểm hơi táo bạo:“Chính cái đẹp sẽ cứu độ thế giới”. [32]Trong một thế giới còn nhiều những khổ đau quẫn bách và những đen tối của tội lỗi, con người vẫn khao khát cái đẹp, không chỉ về thể lý, mà cả về tâm linh, vì chính cái đẹp làm cho con người vươn tới, mở ra với những chiều kích khác của cuộc sống.
Như thế, trong nỗ lực rao giảng Tin Mừng cách mới mẻ, thiết tưởng, Giáo Hội làm thế nào để có thể giới thiệu cho thế giới, trước tất cả nét đặc thù và thách thức của thời đại, sự phong phú đa dạng của Mạc Khải, những cảm nhận của niềm tin phát xuất từ vẻ đẹp vô lường của khuôn mặt Đức Kitô (Ep 3:8). Cho đến ngày nay, có thể nói, khuôn mặt đó vẫn còn cuốn hút con người. Chính trong Mầu Nhiệm Nhập Thể và Vượt Qua, Người đích thực là “hình ảnh của Thiên Chúa” (Ga 1:18; 14:9), qua cách sống làm con người và làm con Chúa cách tuyệt đẹp, trọn hảo. Như niềm xác tín của Phaolô: “Quả thật, xưa Thiên Chúa đã phán: Ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Kitô.” (2Cr 4:6).Vì vậy, cũng nơi Đức Kitô, trọng tâm của tất cả sứ điệp Kitô giáo, mà con người hiện đại có thể gặp gỡ và cảm nhận được vẻ đẹp vừa “cổ xưa” vừa luôn “mới mẻ” của Thiên Chúa, Đấng là Chân, Thiện, Mỹ.
Từ đó Giáo Hội có thể tổ những chương trình sinh hoạt giao lưu, đối thoại, tiếp xúc và trao đổi với giới nghệ sĩ, ngay cả với những người ngoài Kitô giáo, trong mọi lãnh vực của nghệ thuật: văn chương, thi ca, âm nhạc, hội hoạ, phim ảnh, kịch nghệ, điêu khắc, thiết kế. Giáo Hội rao giảng Phúc Âm, làm sao cho họ có thể nghe, thấy, biết, cảm nhận con người của Đức Kitô, vì nội dung đức tin không phải chỉ là tổng hợp các điều phải tin, hay một lựa chọn luân lý, nhưng tiên vàn là việc gặp gỡ một ngôi vị như một biến cố mang lại cho họ một chân trời mới và một hướng đi mang tính quyết định.[33] Hơn nữa, là những con người có nhiều khả năng sáng tạo và sức tác động trên tâm hồn con người, các nghệ sĩ có thể góp phần phục vụ Tin Mừng, diễn tả, thông truyền niềm tin được gợi hứng từ Lời Chúa, và làm sáng tỏ niềm tin dưới nhiều hình thái mới, bằng nhiều phương thế mang dấu ấn của thời đại. Ở đây, cảm hứng từ những giáo huấn của Giáo Hội, chúng ta có thể liên tưởng tới nỗ lực canh tân Phụng Vụ và Thánh Nhạc trong những năm qua. Đức Bênêđíctô XVI cũng đã nói về tầm quan trọng của việc hiểu biết “ars celebrandi”, nghệthuật cử hành phụng vụ, vì chính trong phụng vụ mà Giáo Hội cử hành, tuyên xưng và loan truyền, nuôi dưỡng và phát triển đức tin của mình.[34]
Đối Thoại Tôn Giáo
Trong một thế giới “toàn cầu hoá” như hiện nay, vấn đề giao lưu gặp gỡ giữa Kitô giáo với các nền văn hoá và các tôn giáo trở thành sự kiện phổ quát, ngày càng được cảm nhận cách sâu sắc. Giáo Hội tiếp tục con đường đối thoại, vì đó vẫn là một phương thức quan trọng, đầy hy vọng, trong việc truyền bá Phúc Âm. Nền tảng sâu xa của đối thoại không gì khác hơn là thông truyền sự hiệp thông của tình yêu và sự sống, trong sự trân trọng và hiểu biết lẫn nhau, tìm kiếm dẫn hạnh phúc đích thực và nguồn mạch chân lý. Có thể nói, để đem Tin Mừng đến cho mọi người như một sứ điệp có sức mạnh khai mở, đem lại niềm vui, soi sáng và giải thoát, Giáo Hội lên đường đối thoại, mong muốn cộng tác trong ý thức trách nhiệm chung đối với công lý và hoà bình trên thế giới và tương lai nhân loại. Trong văn kiện Evangelium nuntiandi vào năm 1975, Đức Phaolô VI đã đưa ra một nhận định tích cực về các tôn giáo ngoài Kitô giáo như là những cộng đồng mang theo mình “tiếng vang của hàng ngàn năm tìm kiếm Thiên Chúa”, cũng như các giá trị thiêng liêng của các tôn giáo như “những hạt giống của lời” và như “một chuẩn bị cho Tin Mừng”.[35] Tuy nhiên, dù không phủ nhận, nhưng tôn trọng trong những yếu tố của chân lý trong các truyền thống tôn giáo, Đức Gioan Phaolô II, trong Thông Điệp về truyền giáo, Redemptoris missio, cũng mạnh mẽ khẳng định đạo lý về “Đức Kitô là Đấng cứu độ duy nhất của toàn thể nhân loại, là Đấng duy nhất có thể mạc khải Thiên Chúa và đưa đến cùng Thiên Chúa”, đồng thời nhìn nhận cuộc đối thoại liên tôn là một phần của sứ vụ rao giảng Tin Mừng.[36]
Đường hướng đại kết hay đối thoại với các tôn giáo cũng mở ra cho niềm tin Kitô giáo chiều kích mới. Có thể nói, đó như là một cơ hội cho Giáo Hội tìm hiểu và làm phong phú chính mình, nhất là để chứng thực trọng tâm của niềm tin: Thiên Chúa trong Đức Kitô và ơn cứu độ cho tất cả thế giời. Bản Đề Cương của Thượng Hội Đồng Giám Mục cũng ghi nhận giá trị này:“Các cuộc gặp gỡ và đối thoại với các truyền thống tôn giáo lớn, đặc biệt các tôn giáo phương Đông, các hoạt động này đã được Hội Thánh thực hiện trong những thập niên gần đây và còn đang tiếp tục được tăng cường. Sự đối thoại này là một cơ hội đầy triển vọng để học và so sánh để thấy cho thế giới các tôn giáo khác quan niệm vấn đề tôn giáo như thế nào, nhờ đó Kitô giáo có thể hiểu biết sâu hơn về những cách thức mà đức tin Kitô giáo có thể lắng nghe và đáp lại cảm thức tôn giáo của mỗi người”.[37
Khoa Học Kỹ Thuật và Công Nghệ Thông Tin
Trong thời đại mới, trước những thành tựu của toán học, những tiến bộ liên tục về nghiên cứu khoa học và kỹ thuật nhắm tới tri thức các sự vật, các qui luật thực tại tự nhiên và muốn làm chủ thế giới, làm cho con người trở nên ngày càng bị lệ thuộc vào những lợi ích của sự tiến bộ đó. Hậu quả là chỉ có những khám phá khoa học, kỹ thuật và công nghệ cũng như những gì khoa học có thể kiểm nghiệm hoặc kiểm chứng mới đáng tin. Như thế, vấn đề niềm tin vào Thiên Chúa ngày càng trở thành đáng ngờ, khi khoa học kỹ thuật xuất hiện của như một dạng thức minh triết mới trên diễn đàn cuộc sống. Với một vị thế như vậy, khoa học kỹ thuật tự hào là có khả năng cung cấp cho con người sự hiểu biết về ý nghĩa cuộc đời qua những tiện nghi vật chất và thoả mãn tức thời. Dù thế nào đi nữa, những chất vấn và thách thức đó, phải chăng đòi buộc Giáo Hội làm mới lại phương pháp “hộ giáo” của mình, diễn giải làm sao để con người hiểu được lý do cũng như giá trị của niềm tin, mà nếu không có niềm tin đó, con người cũng chẳng có gì để suy nghĩ, xây dựng, hy vọng cho cuộc đời. Giáo Hội tiếp tục ngỏ lời với con người trong tình huống hiện nay của thế giới. Vấn đề là làm sao Giáo Hội có thể chứng tỏ qua chứng tá đời sống của mình rằng: nơi Tin Mừng tình yêu và chân lý của Đức Kitô con người có thể tìm kiếm lời giải đáp trọn vẹn và tối hậu cho mọi thực tại. Bởi vì, nói theo suy luận của bản Đề Cương: “tận thẳm sâu của con người có hiện diện một điểm nằm ngoài bình diện quan năng giúp tiếp giáp với thế giới vô hình, để nhờ đó có thể đụng chạm tới được với Đấng vô hình, một nhu cầu cấp thiết cho sự hiện hữu của con ngườ … Đức Giêsu Kitô, Đấng được Cha sai đến để nói lời yêu thương với con người. Chính Đức Kitô, Lời Thiên Chúa nhập thể là câu trả lời cho toàn bộ ý nghĩa của cuộc sống nhân trần”.[38]
Hơn nữa, khả năng rộng lớn hầu như vô hạn do các phương tiện truyền thông đại chúng và kỹ thuật số là một trong những dấu chỉ của thời đại. Nhờ những tiến bộ của công nghệ thông tin mà con người có nhiều cơ hội hơn để hiểu biết nhau, phát triển hơn về tư tưởng, các giá trị nhân văn, đồng thời tiếp cận rộng rãi hơn với các thông tin khác, tạo ra những hình thức liên đới mới, để có thể trao đổi, nối kết và xây dựng một “thế giới văn hoá” toàn cầu. Như lời của Đức Bênêđictô XVI, trong sứ điệp nhân Ngày thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 46: “Phần lớn hoạt động hiện nay của truyền thông được định hướng bởi những câu hỏi cần có lời giải đáp. Các bộ máy tìm kiếm và các mạng xã hội là nơi đầu tiên nhiều người tìm đến khi cần lời khuyên, ý tưởng, thông tin và những lời giải đáp. Vào thời của chúng ta, hơn bao giờ hết internet đang trở thành nơi hỏi và trả lời – hơn nữa, con người ngày nay thường bị dội bom bằng những câu trả lời cho các thắc mắc mà họ chưa bao giờ đặt ra và các nhu cầu mà họ chưa cảm thấy…Tuy nhiên, trong thếgiới truyền thông phức tạp và đa dạng này, có nhiều người quan tâm đến những vấn đề tối hậu của đời sống con người: Tôi là ai? Tôi biết được điều gì? Tôi phải làm gì? Tôi có thể hy vọng điều gì? Điều quan trọng là phải đón nhận những người đặt ra những câu hỏi này, bằng cách mở ra một cuộc đối thoại sâu sắc, bằng lời nói và sự trao đổi, và cả việc mời gọi suy nghĩ trong thinh lặng”. Thế nên, không phủ nhận nguy cơ là các tiềm năng đó hàm chứa và gây ra nhiều hệ quả tiêu cực, có thể làm băng hoại con người, Giáo Hội có trách nhiệm tìm ra những viễn ảnh thiêng liêng, thần học và văn hóa qua các phương tiện truyền thông hiện đại. Đòi hỏi hiện tại hóa là đòi hỏi nội tại của một đức tin lịch sử. Vấn đề là làm thế nào để sử dụng các phương tiện đó cách tốt nhất, cần thiết nhất cho sứ mạng loan báo Tin Mừng, để xác định, phổ biến, làm sáng tỏ nội dung đức tin một cách mới mẻ, đáp ứng lại những nhu cầu thiết thực của con người, và đồng thời để xây dựng, bồi đắp “văn hoá sự sống”, nối kết mọi người hướng tới một nền “văn minh tình thương”.
Di Dân và Bác Ái Xã Hội
Bước vào thời đại đô thị hoá và công ngiệp hoá, hiện tượng di dân cũng là một vấn đề đáng quan tâm trong sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo Hội. Sứ điệp của Đức Bênêđíctô XVI, nhân ngày thế giới Di Dân năm 20012, với chủ đề “Di dân và Tân Phúc âm hóa” cũng nhận thức rằng thực tế lịch sử hôm nay “kêu gọi Giáo Hội phải bước lên con tầu truyền bá Phúc âm với cách thức mới giữa một đại dương mênh mông đầy sóng gió của một nhân loại chuyển động”. Như thế, sự kiện di dân quốc nội cũng như quốc tế, vì muốn cải thiện điều kiện sống, hoặc vì trốn chạy khỏi bắt bớ, chiến tranh, bạo động, đói khổ, thiên tai…đều đưa tới vấn đề con người phải sống hòa trộn với nhau. Từ vấn đề đó gây ra biết bao nhiêu vấn nạn, không những về khía cạnh nhân bản, mà còn cả về đạo đức, tôn giáo và tâm linh nữa. Việc loan báo Tin Mừng lại phải đối diện một lúc với hai vấn đề. Trước hết, Giáo Hội làm thế nào để giúp các di dân giữ vững được đức tin, đặc biệt khi không còn được nền văn hóa địa phương gốc của mình nâng đỡ. Phải chăng cần tìm ra cách tiếp cận mục vụ, các phương thế và diễn đạt mới, để Tin Mừng luôn là cho và vì con người trong chính trong hoàn cảnh cụ thể và đặc thù của họ. Như vậy, sứ điệp cứu độ và hiệp nhất của Đức Kitô được loan báo cùng với sự mở rộng vòng tay đón tiếp sẽ mang lại cho các di dân nguồn an ủi, hy vọng và “niềm vui trọn vẹn” (Ga 15,11). Đàng khác, nếu họ gặp được các chứng nhân Phúc Âm chân chính, cũng như các mẫu gương hiệp thông của đời sống Giáo Hội, họ sẽ được khích lệ để chính mình trở thành sứ giả và tác nhân mới của việc rao giảng Tin Mừng tại nơi họ được đón nhận.
Hơn nữa, ở đây, chúng ta cũng thấy được nỗ lực loan báo Tin Mừng trở thành sứ mạng bác ái xã hội, giúp đỡ tha nhân, đem lại công lý cho người nghèo, cơ hội giáo dục, hỗ trợ việc phát triển con người, khắc phục những chia rẽ về chủng tộc, tôn trọng sự sống trong tất cả mọi tình huống. Như vậy, bác ái xã hội là một cách thức truyền bá Phúc Âm, tuy không trực tiếp rao giảng Tin Mừngnhiều bằng lời nói, nhưng nhiều bằng hành động thể hiện tình yêu, và như thế là làm cho con người nhận biết được tình yêu Thiên Chúacách sống động.Đây là một chiều kích căn bản của sự hiệp thông sâu xa và mở rộng của Giáo Hội. Khi rao giảng Phúc Âm, Giáo Hội trở thành “trung tâm bác ái”, “ngôi nhà tình thương”, là “căn lều của tình yêu ” Thiên Chúa cắm giữa nhân loại, là nơi mọi người có thể tìm gặp được ánh sáng ấm áp của tình yêu Thiên Chúa, nhờ đó mà được phục hồi sự sống (Rm 5:12), được giao hòa và hiệp nhất với nhau (Ga 11:52; Ep 2:15-18). Như quan điểm có tính định hướng của Đức Bênêđíctô ngay trong Thông Điệp đầu tiên, Deus Caritas Est(2005): Giáo Hội phải “trở thành chứng nhân cho tình yêu của Chúa Cha, Đấng muốn làm cho nhân loại trở thành một gia đình duy nhất trong Con của Người. Mọi hoạt động của Giáo Hội đều là sự biểu lộ một tình yêu muốn tìm sự thiện toàn vẹn cho con người… và tìm cách phát triển con người trong những lãnh vực khác nhau của cuộc sống và sinh hoạt nhân văn”.[39] Và một khi được thể hiện qua việc bác ái xã hội, như vậy tình yêu thực sự chứng tỏ sứ điệp Tin Mừng là “khả tín”
Kinh Tế và Chính Trị
Thực tế lịch sử cho thấy hình thái cơ bản nhất của chính trị là kinh tế. Các nguy cơ chiến tranh “nóng” hoặc “lạnh” đe doạ hoà bình của thế giới đều phát xuất từ sự thiếu cân bằng trong cán cân quyền lực hay quyền lợi, cũng là cạnh tranh lợi nhuận kinh tế. Tình trạng khủng hoảng kinh tế toàn cầu và trường kỳhiện nay, có thể nói, là hậu quả của những hoạt động kinh tế không theo một ý định đạo đức và chiều hướng nhằm phục vụ và xây dựng ích lợi chung cho nhân loại. Trái lại, nền kinh tế này lại đề cao giá trị lợi nhuận hơn là phẩm giá con người, và vì thế mà không còn khả năng bảo vệ công bằng xã hội cũng như duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc. Trước những thách đố đó, và trong hoàn cảnh phức tạp của ngày hôm nay,phải chăng thế giới cần đến một nền đạo đức học về trật tự công bằng trong lãnh vực kinh tế và chính trị.
Thế nên, Đức Bênêđíctô đã mạnh dạn giới thiệu học thuyết xã hội công giáo cho thế giới, vì đây cũng là một phần quan trọng của Tin Mừng cứu độ và hiệp nhất của Đức Kitô. Tài liệu này không chỉ làm sáng tỏ chiều kích xã hội của Tin Mừng và quan điểm của Giáo Hội, mà còn đề nghị “những định hướng có giá trị, những nguyên tắc chỉ đạo vượt qua ranh giới của Giáo Hội …, đối diện với sự phát triển liên tục…, trong bối cảnh đối thoại với tất cả những ai thật sự quan tâm đến nhân loại và thế giới”.[40] Do đó, đối với Giáo Hội, khái niệm quan trọng trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng hiệp thông cho thế giới đang bị khủng hoảng và phân chia này là “tình liên đới”, liên đới trong kinh doanh, liên đới trong phát triển và hợp tác kinh tế toàn cầu, vì con người thời đại ngày càng ý thức hơn về sự tương thuộc lẫn nhau. Tất cả các quốc gia trên thế giới cần được khuyến khích tham gia vào sự phát triển chung, nếu không, thì sự phát triển đó không đích thực, không bền vững. Tuy Giáo Hội không phải là cơ chế trực tiếp hoạt động trong những lãnh vực này, nhưng Giáo Hội loan báo Tin Mừng cho mọi người, làm chứng cho những giá trị cứu độ của Tin Mừng, phục vụ quyền lợi và bênh vực phẩm giá nguyện thủy của con người, trên nền tảng tình yêu và công lý. Có như thế, Giáo Hội mới có thể là “lương tâm của tình yêu”, đóng vai trò ngôn sứ để phê phán những gì thực ra chỉ là giả tạo và mưu đồ chính trị của trần gian. Vì vậy, đời sống kinh tế và chính trị của con người có thể được phântích bằng những lời lẽ của Tin Mừng hiệp thông.
Cảnh Vực Môi Sinh
Vấn đề sinh thái là chủ đề đang được thế giới hôm nay bàn luận sôi nổi. Các công trình kỹ nghệ hoá đã gây tác hại trầm trọng đến thiên nhiên, là môi trường sống và tương lai sự sống của con người. Trái đất tràn ngập sự sống với muôn vẻ huy hoàng biểu đạt vinh quang Thiên Chúa. Trong Tông Huấn “Sacramentum Caritatis”, Đức Bênêđíctô XVI đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm “thánh hóa thế giới, bảo vệ vũ trụ”.[41] Bởi vì tất cả nhân loại được liên kết với vạn thể trong vũ trụ, làm nên một lịch sử duy nhất và phổ quát. Trong niềm hy vọng Kitô giáo, toàn thể thụ tạo đang tiến tới sự hợp nhất trọn vẹn trong một thực tại siêu việt và bao trùm, đó là Đức Kitô Phục Sinh (Ga 1:1, 2, 3-4).Đi ngược lại hay tách biệt khỏi vòng tròn liên đới và tương tác cơ bản của trật tự sáng tạo này, con người có thể huỷ diệt chính mình. Hơn nữa, ý thức được cuộc khủng hoảng môi sinh hiện nay không thể giải quyết đơn thuần dựa trên những ý niệm hay tranh luận lý thuyết, nhưng tiên vàn là sự hoán cải toàn diện vì trái đất, đặt nền cho sự hiệp thông với vũ trụ vạn vật. Chính vì thế, loan báo Tin Mừng là mời gọi hoán cải, làm sao từ lẽ suy tư đến chính kinh nghiệm về niềm tin Kitô giáo, có thể khuôn đúc nên một nền đạo đứcsinh học, để từng hành động của con người có thể cứu vãn được tình thế nguy ngập hiện nay, khi biết lắng nghe và đáp lời “kêu cứu” của thiên nhiên. Đây cũng là một lộ trình mới cho sứ vụ rao giảng của Giáo Hội, vì niềm hy vọng Kitô giáo, như lời Đức Gioan Phaolô II, tuy thúc đẩy chúng ta hướng về “trời mới đất mới” (Kh 21:1), nhưng “điều đó không làm suy yếu, mà còn kích thích tâm thức chúng ta về trách nhiệm đối với trái đất” này.[42]
Giáo Dân và Gia Đình
Sau hết, chúng ta khộng thể nói tới loan báo Tin Mừng cách thức mới trong thời đại hiện nay mà không đề cập đến đại đa số thành phần trong Thân Mình Đức Kitô là giáo dân và những người sống bậc gia đình. Có thể nói đây là những diễn viên chính, đóng một vai trò mang tính quyết định trong nỗ lực làm cho ánh sáng Tin Mừng được lan toả khắp mọi nơi trên thế giới, trong mọi lãnh vực và trạng huống cuộc sống. Chúng ta thấy vai trò này được minh định trong sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân “Apostolicam actuositatem”, trong Tông Huấn “Evangelii nuntiandi” của Đức Phaolô VI, và Tông huấn Kitô hữu Giáo dân“Christifideles laici” củaĐức Gioan Phaolô II. Ở đây thiết tưởng cần phải làm nổi bật những thừa tác vụ và đặc sủng khác nhau của Thần Khí trong Giáo Hội, nhằm cho tất cả Thân Mình được tăng trưởng. Và bởi vì sự sáng tạo của Thần Khí không bao giờ cạn kiệt, nhưng luôn sống dồi dào, và hoạt động, nên Kitô hữu nào cũng là người đồng trách nhiệm, đều dự phần vào việc truyền bá Phúc Âm. Vì thế, như trong Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, chúng ta đọc thấy: “Giáo dân đã và đang góp phần thật phong phú và quảng đại cho đời sống và sứ vụ của Giáo Hội, như mang Tin Mừng của Chúa đến những vùng xa xôi hẻo lánh, chia sẻ công sức tiền của, nhất là những lời cầu nguyện và bao hy sinh âm thầm để xây dựng sự hưng thịnh và sinh động của cộng đoàn Dân Chúa. Thật đáng trân trọng những đóng góp quý giá đó, nay Giáo Hội cần quan tâm hơn đến việc phát huy phẩm chất của giáo dân bằng cách tổ chức các khóa huấn luyện về thần học, giáo lý, Kinh Thánh, mục vụ. Đồng thời, cần canh tân những đường hướng và qui chế tổ chức giáo phận và giáo xứ, để giáo dân có cơ hội thực thi những quyền chính đáng và trách nhiệm của mình trong Giáo Hội”.[43] Thật vậy, để đón nhận sự mới mẻ của Tin Mừng, Giáo Hội cần ý thức sâu sắc về tinh thần đồng trách nhiệm. Nếu tất cả đều đã nhận được Thần Khí, thì tất cả phải chuyển đạt Thần Khí ấy bằng cách góp phần làm cho Giáo Hội tăng trưởng trong sự hiệp thông và phục vụ Tin Mừng.
Từ đó, Giáo Hội cũng đặc biệtlưu tâm tới đời sống gia đình. Vì gia đình được quan niệm như “Giáo Hội tại gia”, việc người nam và người nữ trao hiến cho nhau tạo nên một thực tại hiệp thông mới, thực tại về tình yêu và sự sống trong một thân mình được chia sẻ, để rồi trào sang cuộc sống Giáo Hội và cộng đồng xã hội. Tình yêu vợ chồng là một dấu chỉ bí tích của tình yêu Đức Kitô đối với Giáo Hội như một Thân Mình hiệp nhất. Trong bối cảnh đó, có những cuộc hôn nhân chan hòa yêu thương và gia đình sống hạnh phúc có thể đóng góp rất nhiều cho thiện ích chung, làm chứng cho Tin Mừng về tình yêu hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Trái lại, có những cuộc hôn nhân đổ vỡ và gia đình rạn nứt, chắc hẳn cũng gây nên nhiều thương tích cho xã hội và Giáo Hội. Do đó, nỗ lực rao giảng Tin Mừng cách mới mẻ không thể tách rời khỏi mảnh đất gia đình. Vấn đề là làm thế nào để có thể giúp đỡ cho gia đình trong thời hiện đại sống trọn tình hiệp thông của mình, đồng thời cũng khám phá xem cuộc sống gia đình, với nhiều chiều kích phong phú, có gì để cống hiến cho tình hiệp thông rộng lớn hơn trong Giáo Hội.
Kết Luận
Từ những suy tư và nhận định trên, sứ vụ rao giảng Tin Mừng với phương thức mới, với nhiệt tình mới là thông truyền đức tin trong nỗ lực đối thoại với thời đại chúng ta, làm sao có thể nối kết con người của ngày nay với Thiên Chúa. Bằng một cách thức cô đọng và sống động, khái niệm Giáo Hội là Thân Mình Đức Kitô cho chúng ta thấy được tiến trình từ Đức Kitô nhập thế rao giảng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa đến Giáo Hội lên đường rao giảng Tin Mừng đợi chờ Nước Thiên Chúa. Giáo Hội chỉ có thể tiếp nối sứ mạng của Đức Kitô là “Đầu” của toàn Thân Mình, khi hiểu rằng tất cả công trình cứu độ của Người là muốn cho nhân loại nhận ra tình yêu hiệp thông giữa Người với Chúa Cha, nhận biết Người là Đấng được Chúa Cha sai đến, Đấng lãnh nhận và trao ban Thần Khí, để nhờ sự Phục Sinh mà đặt nền móng cho sự hiệp nhất giữa con người trong sự hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa (Ga 14:20; 17:21,23). Điều này đòi hỏi Giáo Hội sống hiệp thông với Đức Kitô và với nhau để loan báo Tin Mừng hiệp thông cho thế giới, cùng dự phần vào cuộc vượt qua của Đấng chịu đóng đinh và Phục Sinh, cống bố và thực hiện trước tương lai của Nước Thiên Chúa mang dung mạo của Người.
Như thế, loan báo Tín Mừng cách mới mẻ có chiều kích Ba Ngôi học, Thánh Thần học, Kitô học, Giáo Hội, và niềm hy vọng cánh chung. Công cuộc loan báo Tin Mừng Tình Yêu cứu độ và hiệp nhất của Đức Kitô khởi sự trước hết nơi mỗi người tín hữu trong sức mạnh của Thần Khí nối kết tất cả, làm cho tất cả nên một với Đức Kitô, phục vụ thế giới dưới dấu chỉ của Thập Giá, chuẩn bị cho Lễ Hội Nước Thiên Chúa. Thời gian lịch sử qua đi, và có thể còn đó một cánh đồng truyền giáo mênh mông bất tận, những thách đố ở những nơi và những lúc khác nhau, tiếp nối với những nỗi vất vả nhọc nhằn của việc loan báo Tin Mừng. Thế nhưng, tin tưởng vào quyền năng của Đấng Tử nạn và Phục Sinh, Giáo Hội vui mừng vì biết rằng bình minh của Nước Thiên Chúa đang đến, thực sự đã bắt đầu nơi Thân Mình Đức Kitô.
Phaolô Vũ Chí Hỷ SSS.
[1] Lineamenta, Thượng Hội Đồng Giám Mục Thường Niên lần thứ XIII, số 3.
[2] Lineamenta, số 2.
[3] Lumen Gentium, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 1,4,5,8.
[4] Lumen Gentium, 4.
[5] Lumen Gentium, 8.
[6] Lumen Gentium, 7.
[7] Lumen Gentium, 32.
[8] Lumen Gentium, 32.
[9] Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, số 795.
[10] Lumen Gentium, 1,4. Cf. GLGHCG, số 791.
[11] Tông Thư Tiến Tới Thiên Niên Kỷ Thứ Ba, Novo millennio ineunte (6/1/2001), số 43.
[12] Lumen Gentium, 1.
[13] Gerhard Lohfink, Does God Need The Church? Collegeville, Minnesota: Liturgical Prsss, 1999,60.
[14] Lumen Gentium, 7. Cf. GLCG, số 793.
[15] Kinh Nguyện Thánh Thể IV.
[16] Sacrosanctum Concilium, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, 5.
[17] GLGHCG, số 795
[18] Quan Điểm của Hồng Y Joseph Ratzinger về Tân Phúc Âm Hóa, Hoàng Vinh trích dịch, (Nội San Trung Tâm Học Vấn Đaminh), tr. 41.
[19] Quan Điểm của Hồng Y Joseph Ratzinger về Tân Phúc Âm Hóa, tr. 38.
[20] Lumen Gentium, 7.
[21] Lumen Gentium, 48.
[22] Gaudium et Spes, 39.
[23] Lumen Gentium, 3.
[24] Quan Điểm của Hồng Y Joseph Ratzinger về Tân Phúc Âm Hóa, 39.
[25] Lumen Gentium, 39.
[26] Gioan Phaolô II, Redemptoris Missio, số 20.
[27] Gaudium et Spes, 18.
[28] Quan Điểm của Hồng Y Joseph Ratzinger về Tân Phúc Âm Hóa, 42.
[29] Cf. Nguyễn Trung Thành, Dẫn Luận Văn Hóa Việt Nam, (2009-2010), tr. 3. Cf. Trần Ngọc Thêm, Cơ Sở Văn Hoá Việt nam, NXBGD, 1999, tr. 15.
[30] Bruno Forte, The Portal of Beauty: Towards a Theology of Aesthetics, Grand Rapids: Michigan, 2008, p. 2.
[31] Bruno Forte, The Portal of Beauty: Towards a Theology of Aesthetics, 13.
[32] Bruno Forte, The Portal of Beauty: Towards a Theology of Aesthetics, 43.
[33] Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est, số 1.
[34] Cf. “Thánh Thể: Hiệp Thông với Đức Kitô và với nhau” – Suy Tư Thần Học và Mục Vụ hướng tới Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế lần thứ 50 tại Dublin, Ireland, Tháng 6, Năm 2012, số 22.
[35] T. P. Rausch, Đạo Công Giáo Thiên Niên Kỷ thứ Ba, Nguyễn Đức Thông chuyển dịch, NXBTG: 2010, tr. 432
[36] Gioan Phaolô II, trong Thông Điệp về truyền giáo, Redemptoris missio, 5 và 55.
[37] Lineamenta, Thượng Hội Đồng Giám Mục, 8.
[38] Lineamenta, Thượng Hội Đồng Giám Mục, 6.
[39] Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est,19.
[40] Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est,27.
[41] Sacramentum Caritatis, Bản dịch của UBGLĐT thuộc HĐGMVN, 2077, số 92
[42] Ecclesia de Eucharistia, số 20. Xem Gaudium et Spes, số 39.
[43] HĐGMVN, Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa, 2010. Số 27
ĐỀ TÀI 4: LOAN BÁO TIN MỪNG CÁCH MỚI MẺ THEO GÓC NHÌN GIÁO HỘI NHƯ LÀ ĐỀN THỜ CHÚA THÁNH THẦN
Trong các văn kiện Công Đồng Vatican II, chúng ta có thể đếm được 35 hình ảnh trích từ bộ sưu tập của Tân Ước với khoảng 80 mô tả mang tính biểu tượng về Giáo Hội. Những con số cùng lúc vừa chứng tỏ giới hạn chật hẹp của ngôn ngữ nhân loại, vừa cho thấy những chiều kích phong phú của mầu nhiệm Giáo Hội. Các hình ảnh được sử dụng để bổ túc, soi sáng cho nhau và để hoàn chỉnh những điều cần được mạc khải. Trong số đó, sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo lại chọn ba hình ảnh đặc biệt để trình bày về bản chất của cộng đoàn Giáo Hội liên quan đến mầu nhiệm Ba Ngôi: Giáo Hội là Dân Thiên Chúa – Giáo Hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô – Giáo Hội là Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Hình ảnh thứ ba này sẽ là đề tài chúng ta sắp đề cập đến.
Khi nói đến Đền Thờ Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể nghĩ đến nhiều luận đề liên quan như chiều kích Thánh linh học, cơ chế phẩm trật, thần học về thân xác, . . . , tuy nhiên, trong khuôn khổ giới hạn của đề tài thảo luận, chúng ta sẽ chú tâm nhiều hơn đến vị trí của ngôi Đền Thờ Giáo Hội trong công trình Loan báo Tin Mừng, hay nói cách khác, chúng ta nhìn vào Giáo Hội như một Đền Thờ được xây dựng giữa khoảng “Sân Chư dân”. Khi nhìn từ khu vực dành cho lương dân đây, với bức ảnh toàn cảnh là ngôi Đền Thờ của Thánh Thần như đã được mô tả trong Tân ước, chúng ta tạm thời không nhìn vào tảng đá góc Kitô hay nền đá Phêrô, nhưng sẽ lưu ý nhiều hơn đến những gì đã được xây lên, những gì thấy được từ bên ngoài và những gì đang cử hành bên trong, để nhận ra vai trò của một dấu chỉ, hay nói đúng hơn, trách nhiệm của những người làm cho Giáo Hội trở thành dấu chỉ nêu cao trước mặt chư dân. Như thế, phần trình bày sẽ dẫn từ hình ảnh biểu tượng để đi vào thực tại được biểu thị, trước khi minh định vai trò của một dấu chỉ hữu hình và hữu hiệu trong công cuộc tân Phúc âm hoá, từ đó gợi lên những vấn đề mong được triển khai trong phần thảo luận chung với ý kiến đóng góp và chia sẻ của nhiều người.
I. BIỂU TƯỢNG VÀ THỰC TẠI
a. Biểu tượng khả giác
Trong Tân ước, chúng ta chỉ tìm thấy một vài nét phác thảo với một số góc cạnh của ngôi Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Ở đây chúng ta không dừng lại trong phần chú giải, nhưng chỉ nêu lên những chi tiết liên quan đến cộng đoàn Giáo Hội được đề cập đến qua biểu tượng Đền Thờ.
- Thân xác các Kitô hữu (1 Cr 6,19), cũng như của chính Đức Kitô (Ga 2,21; Kh 21,22), là Đền thờ của Thánh Thần;
- Nơi Thần Khí ngự cũng là Đền thờ của Thiên Chúa, ngôi nhà do Thiên Chúa xây lên, là nơi thánh, được chính Thiên Chúa bảo vệ (1 Cr 3,16-17);
- Trong công trình xây dựng Hội Thánh, Chúa Kitô là tảng đá góc tường, nền móng là các Tông đồ và những ngôn sứ của mạc khải Tân ước, làm nên nơi ngự trị của Ba Ngôi Thiên Chúa, ngôi Đền thánh trong Đức Chúa, ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí Ep 2, 21-22;
- Ngôi nhà thiêng liêng với những viên đá sống 1 Pr 2,5;
- Nhà của Thiên Chúa, tức là Hội Thánh của Thiên Chúa hằng sống, cột trụ và điểm tựa của chân lý1 Tm 3,15;
- Đền thờ của Thiên Chúa không thể đi đôi với tà thần 2 Cr 6,16
b. Thực tại mầu nhiệm
Hình ảnh ngôi Đền Thờ Chúa Thánh Thần đã khai mở những đường dẫn tín lý liên quan đến thần học về mầu nhiệm Giáo Hội.
* nét độc đáo của Ngôi Ba
Một chi tiết khá thú vị liên quan đến biểu tượng về Ba Ngôi: - Cha, Con lấy từ những hình ảnh nhất định của con người // trong khi Ngôi Ba mang hình ảnh của Khí, Gió, Hơi thở, Lửa, Nước lấy từ yếu tố thiên nhiên phi hình thể – những hình tượng Dân, Thân thể liên quan đến con người sinh động// trong khi Đền Thờ lại liên quan đến kiến trúc cố định.
Chi tiết này làm nổi bật chiều kích Thánh linh học trong luận đề Giáo hội học: - Một Thần Khí duy nhất không mang hình thể riêng để có thể chiếm đầy mọi thực thể, từ đó liên kết những thực thể cá biệt và khác biệt trong một cấu trúc xác định và duy nhất. Chính Thần khí duy nhất này là nguyên lý hiệp nhất của Giáo Hội với các đặc sủng phong phú đa dạng được trao ban để xây dựng một Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô.
* nét độc đáo của Giáo Hội
- là “nhà thờ” và cũng là “Hội Thánh” - một “đền thờ” hữu hình nhưng chứa đựng những thực tại vô hình – ngôi nhà thiêng liêng được xây bằng những con người hiện sinh - những vật liệu liên kết theo “phẩm trật” nhưng vẫn là những viên đá đang sống – đã được xây dựng nhưng vẫn mãi vươn lên.
Đây chính là cấu trúc “thần-nhân”, theo mẫu thức “nhập thể” và thể hiện tính năng “bí tích” của Giáo Hội trong tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho Đức Kitô Phục Sinh tiếp tục hiện diện cách hữu hình và hoạt động cách hữu hiệu giữa nhân loại qua Giáo Hội Người đã thiết lập.
* nét độc đáo của Đền thờ Chúa Thánh Thần
Cộng đoàn và cá thể
Nếu trong hình ảnh Dân Thiên Chúa, không thể gọi riêng từng người là “dân”, hoặc trong hình ảnh Nhiệm Thể, từng người cũng chỉ là một chi thể, thì trong hình ảnh Đền thờ, đặc tính cộng đoàn lại không loại trừ tính cách cá nhân: toàn thể Giáo Hội là Đền thờ (Ep 2,22) - mỗi Giáo Hội địa phương là Đền thờ (1 Cr 3,16) - và từng Kitô hữu cũng là Đền thờ (1 Cr 6,19). Thánh Thần vừa là nguyên lý kiến tạo cấu trúc phổ quát, vừa là tác nhân hình thành phẩm chất đặc thù. Thánh Thần ngự trong toàn thể Giáo Hội và cũng chính Ngài ngự trong từng người tín hữu, Ngài là không khítràn ngập và cũng là lửa được phân chia, Ngài là dòng nước vọt lên từ một nguồn mạch và cũng là gió muốn thổi đâu thì thổi.
Con người và Thiên Chúa - xây dựng và thánh hiến
Ngoài ra, ý niệm Đền thờ thường gắn liền với hình ảnh một công trình kiến trúc qui mô được dành riêng cho việc phụng tự. Và khi nói Giáo Hội là Đền Thờ Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể hiểu công trình đó là do Thánh Thần thực hiện, được Thánh Thần thánh hiến và là nơi Thánh Thần ngự. Đối với từng cá nhân hay với Giáo Hội hoàn vũ, Chúa Thánh Thần chính là vị chủ quản công trình, điều động tất cả để xây dựng đúng theo thiết kế của Đấng sáng lập; Ngài xức dầu để Giáo Hội nên Đền thánh dành riêng cho Thiên Chúa, trong đó mỗi người dâng lên hiến lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa; Ngài đổ đầy và tác động để tất cả nên những viên đá sống xây dựng toàn thể trong đức mến (x. Ep 4,16).
Đền thờ của Chúa Thánh Thần được trang hoàng bằng các nhân đức, bằng muôn vàn ân điển: trong cấu trúc, đó là ơn phẩm trật để kiến tạo cộng đoàn, trong xây dựng, lại là các đoàn sủng, những ân huệ đặc biệt để làm tăng trưởng Giáo Hội và phục vụ tha nhân, tất cả vì lợi ích chung của mọi người.
II. ĐỀN THỜ VÀ SÂN CHƯ DÂN
Ở đây, với hình ảnh ‘Sân Chư dân”, chúng ta không có ý đi sâu vào vấn đề đối thoại giữa người tin và người không tin theo khởi xướng của Đức Bênêđictô XVI từ năm 2009, nhưng chỉ mượn hình ảnh khoảng sân chung quanh Đền Thờ để tạo thêm một yếu tố để suy tư về trách nhiệm loan báo Tin Mừng liên quan đến hình ảnh Giáo Hội là Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Một công trình xây dựng sẽ không nói nhưng là cho thấy. Vì thế, Giáo Hội không chỉ liên tục phải nhìn vào chính mình, nhưng còn phải nhớ là có nhiều người bên ngoài cũng đang nhìn Giáo Hội. Giữa trần thế, Giáo Hội là ngôi đền xây trên núi, là ngọn đèn đặt trên giá cao.Từ sân Chư dân, rất nhiều người đang quan sát, đang tìm hiểu với ít nhiều thiện cảm, đồng thời cũng không thiếu những người sẵn sàng để phê bình, công kích, thậm chí để phá hoại.
Không còn ngăn cách
Tại Đền thờ Giêrusalem, sân chư dân tách biệt với sân người Do Thái bởi mấy bậc cấp và một lan can bằng đá có ghi lệnh cấm người ngoại vượt qua, ai vi phạm sẽ bị án tử hình. Khi Đức Kitô đến, Người đã hy sinh chính thân mình trên thập giá để triệt hạ những rào cản, những cách ngăn, để liên kết tất cả trong một Thần Khí duy nhất, xây dựng thành ngôi đền thánh, đưa mọi người đến cùng Chúa Cha (x. Ep 2,14-22).
Rào chắn đã một lần được dở bỏ, nhưng trong thực tế đã nhiều lần bị dựng lại giữa nhóm tín hữu và cộng đồng lương dân. Những ngăn cách tuy không hẳn mang tính loại trừ, nhưng chắc chằn đã gây khó khăn cho tiếp xúc và đối thoại do những thành kiến, bảo thủ, đưa đến e dè ngần ngại, hoang mang và khép kín.
Mở rộng lối vào
Khi khởi xướng thể thức đối thoại “Sân Chư dân”, và đặc biệt, khi quyết định triệu tập Đại Hội Thường Kỳ lần thứ XIII của Thượng Hội Đồng Giám Mục vào năm 2012 để thảo luận về chủ đề: Loan báo Tin Mừng cách mới mẻ để truyền bá Đức Tin Kitô giáo, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI như muốn xác định một lần nữa, Giáo Hội không hề muốn đóng kín các cổng Đền thờ, nhưng chân thành mời gọi mọi người nhìn kỹ hơn vào Đền thờ, đồng thời các tín hữu cũng phải sẵn sàng bạo dạn bước vào khu vực sân chư dân mang theo cả ý thức trách nhiệm đối với sứ vụ truyền bá đức tin, chủ tâm thực hiện công cuộc loan báo Tin Mừng với lòng nhiệt thành mới, phương pháp mới và cách diễn đạt mới. Chia sẻ nỗi thao thức của Mẹ Giáo Hội, và muồn chung nhịp bước với Thượng Hội Đồng Giám mục, chúng ta cùng trao đổi về phương thức loan báo Tin Mừng được gợi ý từ Tin mừng Gioan 1,35-39, với lời giới thiệu của vị Tiền hô và lời mời gọi của Đức Giêsu “hãy đến mà xem”, được trình bày theo mô hình biểu tượng như Lời giới thiệu giữa sân chư dân và Lời chứng giữa lòng Đền thờ.
LỜI GIỚI THIỆU GIỮA SÂN CHƯ DÂN
Khi bước vào “Sân chư dân”, chúng ta đi vào một khung cảnh sinh hoạt đa dạng và phức tạp. Theo sự phân định của bản Đề cương Thượng Hội Đồng Giám mục 2012, ở đó, các Kitô hữu sẽ gặp gỡ thế giới trong những cảnh trí đầy màu sắc của một xã hội đang nhanh chóng đổi thay trong mọi lãnh vực, từ xã hội, văn hoá đến chính trị, dân sự và tôn giáo. Một thoáng nhìn khái quát sẽ tạo tiền đề cho những suy nghĩ về trách nhiệm của mỗi người chúng ta trong tiến trình Phúc âm hoá chính bản thân chúng ta và mọi người chung quanh.
Bối cảnh văn hoá
Chủ nghĩa tục hoá khiến con người mất đi khả năng nghe và hiểu những lời của Tin Mừng như một thông điệp sống động và đem lại sự sống. Chủ nghĩa tục hoá xuất hiện trong quan niệm về một cuộc sống không cần đến thế giới siêu việt. Tuy không trực tiếp phủ nhận Thiên Chúa, tôn giáo hay Kitô giáo, phong trào tục hoá mang những hình thái văn hoá tinh tế vẫn thâm nhập vào đời sống tâm linh và kết tụ trong một não trạng âm thầm gạt bỏ Thiên Chúa hoàn toàn hay một phần trong đời sống và ý thức con người.
Một số tín hữu đã không thoát khỏi ảnh hưởng tai hại của chủ nghĩa tục hoá, biến tướng thành chủ nghĩa tương đối, kéo theo chủ trương khoái lạc và hưởng thụ, mở đường cho nguy cơ đánh mất cả những yếu tố cơ bản của đức tin, rơi vào tình trạng thui chột thiêng liêng và tâm hồn trống rỗng, hoặc chọn những hình thức thay thế tôn giáo và thái độ tâm linh mơ hồ.
Trước chủ nghĩa tục hoá lan tràn đó, làm thế nào để giới thiệu cho chư dân Đức Kitô là đường, là sự thật và là sự sống? Đồng thời, làm thế nào để việc Loan báo Tin Mừng cách mới mẻ sẽ cổ vũ cho những cộng đoàn Kitô hữu đang mệt mỏi biết khám phá lại niềm vui của kinh nghiệm Kitô giáo, vượt khỏi tình trạng không nóng không lạnh để tìm lại “tình yêu ban đầu đã mất” (Kh 2:4)?
Cận cảnh xã hội
Hiện tượng di dân đại trà đang làm thay đổi bản đồ mật độ dân số của các thành phố, các quốc gia và các châu lục. Sự gặp gỡ và pha trộn văn hoá tạo thêm nét phong phú nhưng cũng có thể làm suy thoái và xói mòn các tiêu chuẩn nền tảng của cuộc sống, đảo lộn các giá trị, làm xấu đi những mối quan hệ nhân bản, làm nhạt nhoà những truyền thống đã từng tạo nền cho ý nghĩa của lịch sử dân tộc và căn tính cá nhân. Trong khi đó, hiện tượng toàn cầu hoá làm khởi sinh những hình thức liên đới mới và những cách thức mới để chia sẻ những thiện ích của phát triển cho mọi người. nhưng đồng thời cũng đang gây nên những chuyển biến phức tạp trong lãnh vực kinh tế, chính trị và xã hội,
Làm thế nào để có thể nêu lên vấn đề Thiên Chúa cho những con người đang bị chi phối bởi tiến trình pha trộn văn hoá và xây dựng lại cấu trúc xã hội, trong những khung cảnh và địa điểm hoặc bị cắt đứt với môi trường đức tin, hoặc chưa bao giờ có được cơ hội gặp gỡ?
Viễn cảnh truyền thông xã hội
Các phương tiện truyền thông xã hội đã mau chóng trở thành “diễn đàn” của đời sống công cộng và sự tương tác xã hội. Ngoài những lợi ích nhất định, các khả năng truyền thông vẫn mang theo mình những nguy cơ nội tại, có thể đưa con người đi đến thái độ ích kỷ, giản lược các mối quan hệ và các ràng buộc xã hội, làm mất đi các giá trị khách quan của kinh nghiệm, suy tư và tư tưởng, gâytha hoá dần dần các chiều kích đạo đức và xã hội, và sau cùng hình thành một nền văn hoá tập trung vào những cái mới lạ nhất thời, giây phút hiện tại và những vẻ hào nhoáng bề ngoài, trên thực tế là tạo nên một xã hội không có khả năng nhớ lại quá khứ và không có ý thức về tương lai.
Làm thế nào để chứng tỏ sự bạo dạn trong những “đấu trường mới” này, và tìm ra những phương tiện và cách thức để bảo toàn di sản giáo dục và tri thức của Hội Thánh?
Khung cảnh kinh tế, khoa học kỹ thuật và chính trị
Tình trạng khủng hoảng kinh tế trường kỳ ngày nay cho thấy vấn đề sử dụng các nguồn lực vật chất vẫn chưa tìm ra được những nguyên tắc cho một thị trường toàn cầu có khả năng bảo vệ sự công bằng giữa các dân tộc. Khoa học và kỹ thuật có nguy cơ trở thành những thần tượng mới, thậm chí được coi như một tôn giáo mới, mặc dù biết đó chỉ là những câu trả lời phiến diện và bất toàn. Các lực lượng chính trị tạo ra những nguy cơ và cám dỗ mới về khả năng thống trị và quyền lực.
Trong khung cảnh này, làm thế nào để loan báo Tin Mừng Đức Kitô, góp phần xây dựng nền văn minh tình thương, kiến tạo công lý và hoà bình, bảo đảm nhân quyền, bênh vực và nâng đỡ người nghèo, bảo vệ môi trường?
Như thế, giữa sân chư dân, để tiến hành công cuộc Loan báo Tin Mừng cách mới mẻ, tất cả chúng ta cần có một phong cách hành động dũng cảm, một khả năng biết nhận định và phân tích các dấu chỉ thời đại để tích cực rao giảng và làm chứng hữu hiệu cho Đức Kitô và Tin Mừng cứu độ của Người.
Hồng ân và trách nhiệm
Giữa lòng đám đông trong khoảng sân rộng của thế giới, các Kitô hữu vẫn hằng ngày hiện diện, mang theo Tin Mừng của Đức Kitô khi gặp gỡ mọi người (x. 2 Cr 10,14). Để giới thiệu Tin mừng, lời rao giảng và huấn giáo là cần thiết, nhưng chính cuộc sống sẽ là tiếng nói gần gũi, dễ nghe thấy và dễ được tiếp nhận nhất. Bản Đề cương xác tín rằng “đời sống hằng ngày sẽ giúp chúng ta biết có thể tìm thấy những “sân của Dân Ngoại”, những nơi mà lời nói của chúng ta không chỉ được nghe thấy dễ dàng, mà còn có ý nghĩa và là một phương thuốc chữa lành những bệnh tật của nhân loại” (xem Đề cương, số 19). Được tô điểm bằng muôn ân huệ của Thánh Thần, các Kitô hữu phải thật sự trở nên những viên đá sống động, những viên đá xây nên ngôi Đền thờ ngay trong tầm nhìn của mọi người, những viên đá có thể sờ chạm được trong những tiếp xúc gặp gỡ thường ngày, những viên đá có khả năng làm vọng lại những lời của Tin mừng được công bố trong Đền thờ.
Để lời giới thiệu của các tín hữu không bị nhấn chìm giữa một khung cảnh ồn ào hay tan loãng giữa khoảng không cách biệt, nhưng được thực sự hợp thời và hữu hiệu, bản Đề cương nêu lên vấn đề phân định và đối diện thách đố như hai điều kiện cần thiết trong công cuộc tân Phúc âm hoá.
Giữa một xã hội nhân loại đang bị dao động trước những biến chuyển quá sâu, quá rộng và quá nhanh, đang bị căng thẳng, hoang mang, nghi ngờ, sợ hãi vì mất cân bằng, thậm chí mất cả phương hướng, các Kitô hữu được mời gọi phải thực hiện một tiến trình phân định với những giai đoạn lắng nghe, hiểu biết và giải thích những gì đang diễn ra trên thế giới. “Chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi những thay đổi này, Hội Thánh có những vấn đề phải xét đến, những hiện tượng phải tìm hiểu, những việc thực hành phải chỉnh đốn và những chương trình và tình huống sống thực phải thấm nhuần một cách mới mẻ Tin Mừng của hi vọng” (xem Đề cương, số 4)
Như thế, cần đặt lại vấn đề các thực hành quen thuộc và phương cách hành động truyền thống, phải suy xét lại về cách thức rao giảng và truyền đạt đức tin, trong thái độ can đảm đối diện với những thách đố của con người và thời đại hôm nay, để có thể tiến hành việc loan báo Tin Mừng nhờ các phân định hợp lý và hợp thời.
LỜI CHỨNG TRONG LÒNG DỀN THỜ
Từ sân chư dân, những người bên ngoài, tuy không tham dự và cũng không hiểu rõ tất cả những gì đang diễn ra bên trong Đền thờ, khu vực dành riêng cho tín hữu, nhưng họ vẫn luôn nhìn thấynhững người bên trong. Liên quan đến sứ vụ loan báo Tin Mừng, chúng ta có thể thấy rõ trách nhiệm của cộng đoàn và của từng Kitô hữu về phẩm cách chứng nhân cần được thể hiện trước mặt mọi người chung quanh.
Thánh Phaolô như thể đã thao thức nhiều về vẻ đẹp của ngôi đền Hội Thánh. Trong các thư ngài gửi, hình ảnh Đền Thờ đều được vẽ ra trên những cảnh nền sinh hoạt thực tế tại các Giáo đoàn: hoặc trên khoảng màu loang lỗ của những chia rẽ trong cộng đoàn, hay mảng tối của tội tà dâm nơi các tín hữu tại Côrintô (x.1 Cr 3, 1-17; 6,12-20); hoặc trên khung nền của những mối liên hệ phức tạp giữa các Kitô hữu và người Do thái hay dân ngoại (x. Ep 2,11-22; 2 Cr 6,11-18); hoặc ngay trên chính những hướng dẫn chi tiết liên quan đến việc điều hành cộng đoàn (x. 1 Tm 3,1-16). Nói chung, Phaolô nhớ đến hình ảnh Đền thờ mỗi khi muốn nhắc nhở cộng đoàn về phẩm cách cao quý của ơn gọi Kitô hữu, về cách thức thể hiện ơn gọi đó giữa lòng Giáo Hội, một Giáo Hội, theo cách nói của Công đồng Vatican II, luôn liên quan đến “chư dân” vì là “Lumen Gentium” và mang sứ mạng “Ad Gentes”.
Dấu chỉ không thể được vẽ nguệch ngoạc bằng những đôi tay vụng về cẩu thả không biết mình đang vẽ gì. Trách nhiệm chứng nhân đòi buộc các tín hữu phải là những dấu chỉ vừa sống động vừa biểu hiện rõ nét và trọn vẹn căn tính và ý nghĩa sự hiện diện của Giáo Hội giữa trần gian. Tông Huấn Evangelii nuntiandi của Đức Phaolô VI cho thấy Phúc âm hoá bao gồm việc giảng thuyết, huấn giáo, phụng vụ, đời sống bí tích, việc đạo đức bình dân và chứng tá đời sống Kitô hữu (xem các số 17.21.48tt). Ở đây chúng ta chỉ trình bày tác dụng loan truyền Tin Mừng của Phụng vụ vàchứng tá đời sống Kitô hữu, những nét đẹp dễ thấy nhất nhưng lại dễ thương tổn nhất nên cũng cần quan tâm nhất.
Phụng vụ
Công Đồng Vatican II đã nêu rõ tác dụng của những cử hành vẫn diễn ra trong lòng ngôi Đền Thờ Giáo Hội: “Hằng ngày, Phụng vụ kiến tạo những người bên trong Giáo Hội thành đền thánh trong Chúa, thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa trong Thánh Thần, cho đến khi đạt tới tầm vóc viên mãn của Chúa Kitô, đồng thời cũng kiện cường cách kỳ diệu nơi họ sức mạnh để rao giảng Chúa Kitô, và như thế Phụng vụ bày tỏ cho những người ở bên ngoài thấy Giáo Hội như một dấu chỉ được đặt lên cao trước mặt muôn dân, nhờ đó con cái Thiên Chúa đang tản mác được qui tụ nên một cho tới khi thành một đàn chiên với một chủ chăn.” (SC 2)
Phụng vụ trong ngôi Đền thờ của Thánh Thần chính là thời điểm, không gian và cách thế thích hợp nhất để các tín hữu “thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và trong Sự Thật”, trong tiếng gọi “Abba” và như những người con yêu dấu đẹp lòng Cha. Cộng đoàn phụng vụ, gồm cả chủ sự và người tham dự, đều là những người đang cử hành các mầu nhiệm thánh thiêng theo cơ chế biểu tượng với những nghi thức, ngôn từ và cử chỉ, vì thế cũng trở nên thành phần chủ yếu trong tiến trình kết tạo dấu chỉ hữu hình của Hội Thánh trước mặt mọi người. Trong Tông huấn Sacramentum Caritatis, Đức Bênêđictô XVI đã đề cập đến giá trị thần học và phụng vụ của cái đẹp, không là yếu tố thẩm mỹ để trang hoàng, nhưng là nét đẹp của tình yêu hấp dẫn và mang lại niềm vui, để những cử hành phụng vụ biểu hiện vinh quang của Thiên Chúa và một thoáng của thiên đàng nơi trần gian.
Phụng vụ luôn gắn liền với các bí tích, liên quan đến những mầu nhiệm được tuyên xưng, được cử hành và để được sống. Chính phụng vụ sẽ đưa các Kitô hữu tiếp cận với các mầu nhiệm đức tin, sẽ tạo điều kiện để họ đón nhận ân sủng cách ý thức và tích cực, đồng thời cũng làm gia tăng năng lực cho cuộc sống. Chính đời sống bí tích sẽ trở thành lời chứng tuyệt vời cho ơn gọi Kitô hữu. Đặc biệt sau mỗi lần cử hành bí tích Thánh Thể, các tín hữu trở về cuộc sống thường nhật với tình yêu và sức mạnh vừa được củng cố để thêm nhiệt thành nêu cao chứng tá của lòng mến Chúa yêu người, bởi không thể ích kỷ giữ riêng cho mình hồng ân sự sống đã nhận lãnh trong cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa Giêsu Kitô.
Thế nào là những hành vi phụng vụ rạng rỡ trong nét đẹp có khả năng mang Tin Mừng đến cho những người bên trong cũng như những người bên ngoài?
Chứng tá đời sống
Công đoàn Kitô hữu không khép kín trong một Đền Thờ cửa đóng then cài, nhưng luôn được sai đi như ánh sáng chiếu giãi trước mặt mọi người. Mỗi người là Đền Thờ nơi Thánh Thần ngự, và chính đời sống trong Thánh Thần sẽ trở thành chứng từ của niềm tin Kitô giáo, là cách thức để loan báo Tin mừng, để Phúc âm hoá trần thế.
Rao truyền Tin mừng không chỉ là giảng dạy nhưng trước tiên phải là làm chứng. Câu nói của Đức Phaolô VI đã trở thành bất hủ: “Con người thời nay sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn nghe những thầy dạy, và nếu họ có nghe những thầy dạy thì chính vì những thầy dạy đó cũng là những chứng nhân”.
Để lời chứng có giá trị, đáng tin và hữu hiệu, những người thuộc về Hội Thánh phải thực sự và luôn mãi “là Hội Thánh”. Vì thế, các Kitô hữu cần ý thức trước tiên về chính căn tính của Giáo Hội, hiểu biết nhiều hơn về mầu nhiệm và sứ mạng của Giáo Hội. Những mạc khải về Giáo Hội sẽ là cơ sở nền tảng cho những nhận thức của chúng ta về căn tính của Giáo Hội, về điều Giáo Hội phải là, phải trở thành, để rồi từ đó, trong sức mạnh và dưới ánh sáng soi dẫn của Thánh Thần, các Kitô hữu thể hiện hính căn tính đích thực của cộng đoàn những môn đệ Chúa Kitô.
Qua chứng tá đời sống của các Kitô hữu, ánh sáng Tin mừng sẽ chiếu toả và thấm nhập vào các lãnh vực của cuộc sống nhân loại: gia đình, học đường, văn hoá, lao động, giải trí và mọi khía cạnh khác của đời sống xã hội. Và Bản Đề cương đặt dấu nhấn đặc biệt vào một yêu cầu thiết yếu của Tin mừng: “Đây không phải là loan báo một lời an ủi, nhưng là một Lời khuấy động, kêu gọi hoán cải để dẫn đến cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, từ đó một nhân loại mới có thể đâm bông” (số 13).
Nội dung lời chứng không gì khác hơn là Tin mừng cứu rỗi, người được làm chứng không ai khác hơn là Đức Kitô Cứu thế, cách thức làm chứng là trở thành dấu chỉ sống động, cụ tthể của Lời ban sự sống. Như thế, trong khi các gia đình Kitô hữu phải trở thành dấu chỉ của tình yêu, và các cộng đoàn nên dấu chỉ của hiệp nhất, công bình, bác ái, đại kết và đối thoại, thì các linh mục và tu sĩ cũng sẽ trở thành dấu chỉ của niềm vui phục vụ (xem Đề cương, số 17).
Như thế, mục tiêu trước tiên của tiến trình truyền bá đức tin là xây dựng Giáo Hội nên một cộng đoàn chứng nhân của Tin Mừng. Điều đó có nghĩa là, nếu muốn duy trì sự mới mẻ, sức bật và sức mạnh để loan báo Tin Mừng, chính Giáo Hội cũng luôn cần được Phúc âm hóa, phải để cho mình được uốn nắn bởi Thánh Thần và trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, Đấng đã mang đến cho thế giới tình yêu, ân sủng và sự hiệp thông của Thiên Chúa.
LỜI CHỨNG TRONG THÁNH THẦN
Sức mạnh của người làm chứng chính là Chúa Thánh Thần, Đấng luôn muốn đổi mới mặt địa cầu, Đấng vẫn đến trong gió mạnh cùng với ngọn lửa của lời rao giảng, Đấng đang ở trong từng người tín hữu và là linh hồn của Giáo Hội, một Giáo Hội có “khả năng chứng tỏ trong mọi hoàn cảnh rằng chính Chúa Thánh Thần hướng dẫn và thăng tiến lịch sử của Giáo Hội, của cá nhân các Kitô hữu và của toàn thể các dân tộc và các nền văn hóa” (Đề cương, số 17).
Giáo Hội đã bắt đầu cuộc rao giảng Tin Mừng đầu tiên trong ngày lễ Ngũ Tuần sau biến cố Phục sinh, ngày nay công cuộc loan báo Tin Mừng cách mới mẻ cũng phải được tiến hành trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Giáo Hội ngày nay vẫn cần đến sức đẩy của luồng gió mạnh và sức nóng của những chiếc lưỡi bằng lửa, để mở tung cánh cửa từ những nơi các môn đệ đang cầu nguyện, để bước ra gặp thế giới, để tiếp tục nói về Tin mừng cứu độ bằng mọi thứ ngôn ngữ, để tiếp tục làm chứng cho Đức Kitô bằng sức mạnh của Thánh Thần, Đấng ngự xuống trên cả các dân ngoại như đã ngự xuống trên các tín hữu (xem Cv 11,15).
Chính Thần Khí của Đấng Phục sinh sẽ dạy các tín hữu mọi sự, sẽ nhắc cho họ nhớ tất cả những điều Đức Kitô đã nói và sẽ cùng với họ làm chứng về Người (xem Ga 14,26; 15,26). Chúa Thánh Thần không chỉ đi cùng, nhưng thường vẫn đi trước những người loan báo Tin mừng, dùng nhiều cách thế để chuẩn bị cho con người gặp được Đức Kitô. Khi đến với mọi người chung quanh, chúng ta sẽ mang theo lời Tin mừng, giữ cho cháy mãi tình yêu của Thánh Thần.
Kết
Trong công cuộc Loan báo Tin Mừng cách mới mẻ cho con người ngày nay, Đền Thờ Chúa Thánh Thần một cách nào đó trở nên như cứ điểm hậu cần của đoàn Dân Thiên Chúa trong sứ mạng đến với muôn dân, như điểm gặp gỡ để Thân Mình Chúa Kitô tiếp nhận sức mạnh của Chúa Thánh Thần trong tình yêu của Chúa Cha. Nếu công cuộc rao truyền Tin Mừng muốn đem lại câu trả lời thích hợp cho những dấu chỉ thời đại, cho những nhu cầu của loài người và các dân tộc thời nay, và cho các bối cảnh văn hóa mới, thì hình ảnh Giáo Hội như là Đền Thờ Chúa Thánh Thần sẽ tạo nên lợi thế cho những suy tư, phân định và chấp nhận những thách đố mới đến từ những gì đang xảy ra trên phần Sân Chư Dân, nơi Giáo Hội muốn cổ vũ cho một nền văn hóa bén rễ sâu hơn trong Tin Mừng. Thánh Thần của Đức Kitô Phục sinh vẫn tiếp tục làm kết sinh những hoa trái của mùa Hiện xuống nơi những con người mới, đưa Giáo Hội đến với Chư Dân để rồi, qua Giáo Hội, dẫn toàn thể nhân loại về với Chúa Cha trong hồng ân cứu độ.
Lm Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn









