Offcanvas Section

You can publish whatever you want in the Offcanvas Section. It can be any module or particle.

By default, the available module positions are offcanvas-a and offcanvas-b but you can add as many module positions as you want from the Layout Manager.

You can also add the hidden-phone module class suffix to your modules so they do not appear in the Offcanvas Section when the site is loaded on a mobile device.

Canada đã vào xuân, cây đào trước nhà và cây mai sau nhà đã trổ bông. Thực ra thì cây đào mới có nụ, lá non còn e ấp chưa nhú. Tạo hóa thật toàn năng, các loài cây khác thì lá ra trước rồi hoa mới ra sau, riêng cây đào cây mai thì hoa ra trước, lá ra sau. Cây đào này một năm thu hút nhiều người. Khách bộ hành đi qua nhà tôi nhìn thấy hoa vừa đẹp vừa lạ thì ai cũng ngừng lại ngắm nghía. Nhiều người còn giơ máy ra chụp. Cây hoa đào nhà tôi có cái gốc Bắc Kỳ hay lắm. Chuyện như ni: Tôi có một cô em là kỹ sư canh nông rất giỏi, Cô cũng nhớ quê hương sinh quán ra riết như tôi. Cô nhờ người bạn về VN du lịch mang lén được cây đào nhỏ gốc ở HàNội sang cho cô. Cô là dân trồng cây có tài. Cây đào mọc ở đất mới, trời mới, không khí mới nên lớn như thổi. Sinh hoa kết trái rất lẹ. Năm đó cô cắt một cành đào nhiều hoa nhất đem vào trưng trong phòng khách. Bạn bè ai thấy cũng khen nức nở. Và cành đào được chăm sóc đã có rễ. Thế là cô tìm cách gửi lén sang Canada cho tôi. Canada là đất thiên đàng, cây đào cũng lớn như thổi. Mấy năm vừa qua đã nở hoa. Năm nay coi bộ sẽ đẹp lắm vì cành nào cũng chi chít những nụ hồng. Cây đào chịu được mùa đông băng tuyết, thiệt mừng quá. Nó đã ngủ suốt 4 tháng mùa đông, nay vừa thức giấc. Tôi thật sung sướng, sống ở quê người mà có hoa đào gốc Bắc Kỳ ở ngay trước nhà, có hoa mai gốc Nam Kỳ ở ngay sau nhà. Ông bồ chữ ODP nghe tôi diễn tả sự hạnh phúc như vậy bèn nói: Bác chưa nói hết niềm vui. Trong vườn sau nhà, bác còn cấy đưọc rau dấp cá, cây kinh giới, cây tiá tô, đều là những thứ rau thơm VN lưu niên, đều Việt Nam quá đỗi. Chị Ba Biên Hoà cũng lên tiếng phụ hoạ: Trong bếp nhà chúng ta ở Canada bây giờ còn có chai nước mắm Phú quốc, có lọ mắm tôm Nha Trang, trong phòng chúng ta còn có những kệ đầy sách báo tiếng Việt... Việc này cách đây 40 năm, chưa nhà VN nào có được như vậy. Thật là một phép lạ.

Một kho tàng vô giá.



Bà con mình ai cũng biết : tiếng nói và chữ viết của dân tộc ta rất là độc đáo, chẳng giống với dân nào trên thế giới cả. Đã mấy ngàn năm nay, ai ai cũng hãnh diện, bắt đầu với loại văn chương bình dân (đại chúng) rồi tới văn chương ‘bác học’ tân tiến. Ngay cả trong các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, người ta vẫn nhắc tới câu nói chí lý của nhân sĩ Phạm Quỳnh ngày nào :”Truyện Kiều còn thì tiếng Việt còn; mà tiếng Việt còn thì nước ta còn”. Cụ Quỳnh ca tụng truyện Kiều của Nguyện Du như một đệ nhất danh phẩm văn chương của quê hương mình, rồi nhân đó kêu gọi gìn giữ văn học Việt để không…mất nước.

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước phải thương nhau cùng”


Cảm động quá, phải không bà con ? Chỉ 2 câu lục bát này đủ để nhắc chúng ta yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Dù hoàn cảnh đất nước có thế nào đi nữa.

“Bây giờ mận mới hỏi đào :

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?


Mận hởi thì đào xin thưa :

Lối thì có lối, nhưng chưa ai vào”


Có dân tộc nào mà tạo cách tỏ tình ý nhị sâu sắc của đôi trai gái như ở quê hương mình không ? Thật khó tìm ra lắm !

“Da trắng vỗ bì bạch,

Trời xanh màu thiên thanh”


Nữ sĩ Đoàn thị Điểm ra câu đố, rồi Trạng Quỳnh đáp ngay lại, khiến thiên hạ sững sờ. Chỉ có dân Việt mới hiểu, chứ chả có người nước ngoài quốc nào thấm được cái hay của câu đối Việt Nam, chứ đừng nói tới chuyện phiên dịch ra ngoại ngữ !

Một bề dày lịch sử.



Hình ảnh thày đồ và học trò ngày xưa vẫn làm ai nấy thích thú không ít. Bắt đầu với thời dân ta chịu người Tàu đô hộ một ngàn năm, họ ép mình học chữ Hán, và rồi chữ này mang tới bao khởi đầu cho văn học quê nhà. Từ tích truyện cho tới các hình thức thơ văn, cái gì cũng mượn Tàu. Ta chỉ biết 2 lối thơ là ngũ ngôn và thất ngôn. Qua thời nhà Đường mới phát triển lối thơ tứ tuyệt và bát cú. Về sau, các nhân tài của ta dựa văn học Tàu chế thêm các loại, như thủ vĩ ngâm, liên hoàn, thuận nghịch độc, yết hậu, lục ngôn, tiệt hạ, vĩ tám thanh, song điệp, họa vận và liên ngâm…

Quan trọng nhất là về sau, người Việt chế thêm những loại văn thơ vô cùng hay ho quý giá, như thơ lục bát, song thất lục bát, hát nói, hát bội và ca Huế (riêng tác phẩm ‘Chinh phụ ngâm khúc’ là điển hình tuyệt hảo của thể thơ song thất lục bát).

Nét độc đáo của văn học ta còn thể hiện qua các câu đối, các bài phú, bài văn tế (được gọi chung là loại văn đối hay biền văn).

Dĩ nhiên kho tàng văn chương được thể hiện mạnh mẽ qua thể văn xuôi, kể cả thời gian chữ Nôm khởi đầu với danh nhân Hàn Thuyền đời Trần, để rồi xuất hiện những tác phẩm hay ho như ‘Trinh thử’, ‘Cung Oán ngâm khúc’ và nhất là ‘Kim vân Kiều’ của Nguyễn Du. Và ta cũng cần ghi nhớ công ơn bao tác giả vô danh ( tỉ như kẻ viết truyện ‘Bích Câu kỳ ngộ’ hay’Nhị độ mai…) từng góp phần không phải nhỏ.

Nhưng cái đà đẩy mạnh việc sáng tác vẫn là cơ hội ‘ngàn năm một thuở’ khi chúng ta được hưởng món quà vô cùng đặc biệt của các nhà truyền giáo Âu châu, nhất là cha Đắc Lộ, đó là chữ Quốc Ngữ.

Vào thời cận đại, dĩ nhiên với chữ Quốc ngữ, dễ gì ai quên được những tên tuổi lẫy lừng tiếp tay đẩy mạnh nền văn học quê ta : Nào là Nguyễn văn Vĩnh, Petrus Ký, Phạm Quỳnh, Phan kế Bính. Đáng kể nữa là nhóm ‘Tự lực văn đoàn’ lừng danh với Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo…Còn về thơ thì những tên tuổi lớn như Thế Lữ (Hổ nhớ rừng), Tản Đà (Khối tình con), Cao bá Quát (Uống rượu tiêu sầu), Nguyễn Khuyến (Ông tiến sĩ giấy), Tú Xương (Tự thán), Hàn mạc Tử (Đà Lạt trăng mờ)…

Vào thời chia đôi đất nước năm 1954, tại miền Nam, bà con thấy bao nhà văn nổi tiếng góp phần to lớn cho văn học : Nhã Ca, Duyên Anh, Hoàng hải Thủy, Mai Thảo, Chu Tử, Nguyễn thị Hoàng, Võ Phiến, Lệ Hằng…

Nói gì thì nói, qua bao thế hệ, riêng nền ‘Văn Chương bình dân’ đã, đang và sẽ là những cột trụ xây nền văn học quê ta. Từ những câu tục ngữ, ngạn ngữ, phương ngôn, cho tới kho tàng ca dao bát ngát giá trị :

“Thương nhau tam tứ núi cũng trèo,

Thất bát sông cũng lội, cửu thập đèo cũng qua”


Kế tới là biết bao nhiêu truyện cổ tích đầy ý nghĩa lịch sử giáo dục và giải trí. Nào ‘Sơn Tinh Thủ Tinh’, nào ’Trương Chi Mỵ Nương’, nào ‘sự tích trầu cau’, nào ‘Chử dồng tử’…nhất nhất gợi lại cho hậu thế những tâm tình thật tha thiết với đất nước.

Nền văn học bình dân luôn có tính cách tự nhiên, sâu sắc, giản dị, uyển chuyển và thanh thoát. Nó dựng nên một giá trị trường tồn cao đẹp, tạo sự trưởng thành cho tiếng mẹ đẻ, khó ai quên được trong đời. Khi nói về văn chương ‘bác học’, người ta phải ghi ơn văn học bình dân đã tạo nền móng từ trước. Sự ‘vay mượn’ này đã vô hình chung dựng xây một vườn hoa văn chương quê nhà thật xinh đẹp thơm tho đầy hương sắc.

Gìn vàng giữ ngọc



(Văn miếu Quốc tử giám : đại học tiên khởi Việt Nam)

Văn học là một góc quan trọng của văn hóa nơi dân tộc Việt Nam. Có ai muốn gìn giữ truyền thống văn hóa quê hương mà quên lãng nền văn học được không ? Bỏ qua những thứ tiêu cực trong nước hiện nay, chúng ta đang vui vì tại hải ngoại có những trung tâm dạy Việt ngữ, kèm theo những thư viện ‘bỏ túi’ lưu trữ sách tiếng nước mình, đủ loại cũ mới. Dĩ nhiên trên mạng lưới toàn cầu cũng thấy đó đây những cố gắng giới thiệu các loại sách vở văn thơ cũ mới của văn chương nước nhà. Bà con cứ thử trang nhà http://vietmessenger.com/books/?author=list sẽ thấy vui lắm. Còn đối với các vị cao niên luôn luôn say mê sách cổ Việt Nam ư ? Chúng ta nên bảo nhau cứ tự nhiên mở http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoChuaSachCu.htm . Sướng lắm. Còn nếu khoái đọc tiểu thuyết cũ ? hãy tìm tới trang nhà http://vietmessenger.com/books/ . Kho sách khổng lồ đáng giới thiệu nhất cho cộng đồng thì chúng ta phải kể tới trang http://ndclnh-mytho-usa.org/Kho_Audiobook.htm .

Tại một số nhà sách lớn hải ngoại, bà con cũng rất sung sướng được thấy những tác phẩm mới ra mắt độc giả, ví dụ tập ‘Tác giả Việt Nam’ xuất bản tại Montreal, Canada, giới thiệu hàng trăm người cầm bút ngày qua. Còn nói về những nhà văn hiện nay muốn nối tiếp con đường của các bậc tiền bối, bà con cũng dễ dàng đọc tên họ, như Tưởng năng Tiến với ‘Đường phía bắc’, Huy Yên với ‘Chùm dâu ngọt ngào’, Trạch An và Trần hữu Hội với ‘Bóng xưa’, Mạc phương Đình với ‘Nợ nhau’, Cao thoại Châu với ’24 giờ bất trắc’, Phan thanh Cương với ‘Về trường xưa’…Và còn nhiều nhiều vị khác từ khắp nơi tại hải ngoại, tiếp tục gìn giữ và phát triển nền văn học nước nhà.

Muốn góp phần để ‘gìn vàng giữ ngọc’ ư ? Quý phụ huynh ráng chỉ dạy con em biết mến thương quê hương và dân tộc Việt Nam, nhất là chịu khó học ‘tiếng nước ta’ cho thật thông thạo. Ngưới Tàu, người Do Thái đó, họ bảo nhau chớ đi vào con đường mất gốc. Dù sống ở phương trời nào, giòng máu Lạc Hồng vẫn lưu chuyển trong tim chúng ta.

Mong thay !

LM. Giuse Nguyễn Văn Thư

Thành phố Toronto có rất nhiều công viên. Công viên lớn nhất tên là High Park, ở về mạn tây. Nhà tôi ở gần công viên to lớn này. Báo chí vừa đưa tin là các con gấu ở công viên vừa thức dậy sau giấc ngủ đông miên dài 3 tháng. Tôi ở đây đã lâu thế mà không biết trong công viên có gấu và không biết loài gấu ngủ cả mùa đông. Xưa nay tôi chỉ biết cây cối ở đây ngủ mùa đông và sẽ thức dậy vào mùa xuân. Gấu ngủ đông đã thức dậy nghĩa là mùa xuân đang tới. Tôi có một ông bạn già, cứ mùa đông là ông về VN để trốn lạnh. Tôi vừa gặp lại ông tuần qua. Ông kể cho tôi nghe nhiều chuyện VN lắm, và câu chuyện làm tôi quan tâm nhất là chuyện ông nói về các tháp Chàm ở miền Trung của người Chiêm Thành ngày xưa. Ông cho tôi xem các hình ông chụp. Hiện nay các tháp này đang xuống cấp trầm trọng vì hình như không có sự bảo quản gì cả. Chuyện ông kể vào đúng lúc tôi đang đọc mấy trang sách cũng nói về tháp Chàm. Quả là một sự trùng hợp kỳ lạ.

Mà các cụ có biết tôi đang đọc sách gì không ? Chắc là không vì ở hải ngoại này có biết cơ man nào là sách. Tôi xin kể từ từ nha. Xin cho tôi tạm quên chuyện tháp Chàm để nói về cuốn sách quý mà tôi đang có trong tay. Thưa đó là cuốn ‘ Lang Thang Trên Nước Mỹ’ của Tu Dinh ở Colorado. Ông nhà văn này lạ lắm, ông như người đi rong chơi trong vườn, ông thấy hoa gì lạ mắt và đẹp là ông hái và làm thành một bó hoa, rồi ông đem khoe với mọi người. Đây là tập sách thứ 5 ông khoe các sưu tầm của ông. Ông có một cái nhìn rất trí thức về rất nhiều vấn đề. Từ việc Vua Pháp Macron trẻ hơn vợ 30 tuổi với khẩu hiệu ‘Tiến Lên’, En Marche, tới Vua Trump với khẩu hiệu cũng ý tiến lên ‘ Make America Great Again’... Khi viết về nước Mỹ, trang 1375 ông viết : Trong cuộc chiến Việt Nam, chiến lợi phẩm của nước Mỹ là nước Tàu. Qủa là đúng, phải không cơ. Hai miền VN chỉ là hai con bài.

THÁNH ĐƯỜNG KÍNH THÁNH GIUSE

Thánh đường in dấu trong tôi,
Mang bao kỷ niệm của thời ấu thơ,
Vấn vương đến tận bây giờ,
Quê nghèo họ đạo suốt đời khó quên.

Mùng 8 tháng 3 vừa qua là Ngày phụ nữ quốc tế. Tại Italia và 70 quốc gia trên thế giới nữ giới đã tổ chức một cuộc đình công lớn để phản đối chống lại mọi hình thức bất bình đẳng cũng như những kỳ thị bất công mà hàng tỷ phụ nữ toàn thế giới vẫn còn đang phải gánh chịu trong cuộc sống hằng ngày trong gia đình, ngoài xã hội.

Ngày quốc tế phụ nữ đã được cử hành bên Hoa Kỳ từ năm 1909, tại một vài nước âu châu năm 1911 và tại Italia năm 1922. Trong Ngày quốc tế phụ nữ năm ngoái 2017 Liên Hiệp Quốc hy vọng nội trong năm 2030 thế giới sẽ có thể đạt đến sự bình đẳng cho nữ giới.

Như chuyện nắng mưa…

Bà con mình dễ dàng nhớ và trích lời thơ của Hồ Dzếnh “Nắng mưa là bệnh của trời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Nói tới ‘Yêu’, người ta hay nghĩ ngay tới tình yêu trai gái, nhưng Tình yêu có rất nhiều dạng thức trong đời chúng ta.

Tình yêu là món quà lớn nhất mà chúng ta từng hy vọng để cho đi hoặc nhận lại. Tình yêu là một thứ mà có thể vượt qua rất nhiều những thời điểm khó khăn, mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống. Tình yêu thật mạnh mẽ – nó có thể làm cái nhíu mày trở thành tiếng cười. Nó có thể giúp hàn gắn trái tim tan vỡ nhất. Nó thậm chí có thể biến tất cả những xấu xí trên thế giới, thành một bức chân dung đẹp, mà chúng ta có thể đã từng thích thú ngắm nhìn. Thánh Kinh tả “Tình yêu mạnh hơn sự chết” !

Những trang sử hào hùng

Trước hết, mời bà con đọc một đoạn giới thiệu tổ tiên dân Việt ta oai hùng như sau :

“Khoảng 2879 năm trước Tây lịch (và ta hãy cộng thêm con số 2018 của niên lịch hôm nay sẽ có được 4897 năm.) Vào cái thời đó, có một người tên là Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ, lập quốc trên vùng châu thổ sông Dương Tử, Trung Hoa, lãnh đạo giống người Lạc Việt tối cổ. Đó là tổ tiên, là cội rễ, là root của dân tộc ta hôm nay.”

Truyền thuyết cũng kể thêm chi tiết ngọn nguồn rằng Đế Minh (là cháu 3 đời vua Thần Nông) đi tuần thú phương Nam, lấy được bà Vụ Tiên (giống Tiên) sinh ra Lộc Tục, sau được cho làm vua phương Nam, tức Kinh Dương Vương (còn Đế Nghi là con trưởng thì làm vua phương Bắc). Vua Kinh Dương Vương lấy bà Long Nữ (giống Rồng) con gái chúa Động Đình Hồ, sinh ra Sùng Lãm tức Lạc Long Quân (thế là đích thực con Rồng, cháu Tiên=theo họ mẹ và bà ngoại, vì thời đó theo chế độ mẫu hệ).

Chuyện ngày cũ

Truyện kể rõ ràng: Sau khi thụ phong Linh Mục, cha Phan-xi-cô Thuận đi viếng Đức Mẹ Lộ Đức, vừa để tạ ơn, vừa để xin Mẹ che chở chúc lành đời phục vụ. Ngày ra về, cha cứ nghe âm vang trong lòng: dường như Đức Mẹ nhủ mình ráng can đảm, vì bao thử thách đang chờ đợi trước mắt. Phải chăng có chút gì giống ngày xưa tiên tri Si-mê-on tiên báo về đau khổ Mẹ sẽ chịu vì người con yêu dấu (lễ dâng Chúa vào đền thờ). Nhưng cha Thuận cứ tin tưởng. Mọi sự có Chúa lo !

Về nước, làm giám đốc chủng viện, rồi vinh thăng Giám mục Nha Trang lúc mới 39 tuổi đời. Công tác mục vụ nào cũng thành công. Chuyện xã hội nào cũng vuông tròn. Trăm người đều mến thương, kính phục và hãnh diện. Mẹ ơi, lời tiên tri ‘ngầm’ của Mẹ không ứng nghiệm tí nào cả mất rồi !

Đếm mốc Thời Gian

Đời người thường được quan niệm là quá vắn vỏi : “Trăm năm thì ngắn, một ngày dài ghê”! Và nhà thơ Cao bá Quát đã một lần than thở :”Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy, cảnh phù du trông thấy đã nực cười”. Nhà Phật mang thuyết ‘vô thường ‘ ra để nhắc bảo ta rằng đời sống chỉ là ‘sắc sắc không không’. Còn kinh thánh bên Công Giáo thì dạy rằng Chúa là chủ tể của thời gian : Ngài muốn chúng ta làm quản lý cho khéo ngày tháng đang sống, và cũng nhắc thời giờ trên trần rất giới hạn; trong khi một ngàn năm trước mặt Chúa chỉ như một khoảnh khắc.

Mở lại lịch sử nhân loại, dựa vào thời tiết đổi thay, người ta đã biết chia ra các mùa, theo vòng tròn 365 ngày, kể là một năm. Rồi phân một năm ra 12 tháng. Bắt đầu từ thời La Mã cổ, với triều đại Pompilius vào khoảng 700 năm trước tây lịch. Sau đó hoàng đế Caesar sửa lại cho được rõ ràng chi tiết hơn.

Đức Giám Mục Jean Cassaigne đấy. Khi qua Việt Nam truyền giáo, ngài có tên ‘cúng cơm’ là Cải-Sanh.

Ngày còn bé, từ quê nhà Pháp, ngài đã ấp ủ mộng ra đi truyền giáo cho kẻ nghèo hèn. Thế là sau khi xin vào chủng viện của các cha Thừa sai Ba-lê, và sau những năm tháng dùi mài kinh sử, cũng như chú tâm vào chuyện tu đức, ngài đã được thụ phong Linh mục năm 1925.

Chỉ 2 năm sau đó, ngài tình nguyện qua Việt Nam, được bề trên cử lên coi một giáo họ để giảng đạo và phục vụ nhóm người Thượng (dân thiểu số) tại vùng ‘ma thiêng nước độc’ Di-Linh, cách Đà-Lạt chừng 80 cây số về phía nam, mà một số khá đông dân chúng mắc chứng phong cùi ác liệt. Người Việt thời đó thường gọi họ bằng một từ ngữ khá tàn nhẫn : Mọi cùi.

Cookies make it easier for us to provide you with our services. With the usage of our services you permit us to use cookies.
Ok